vanban.org

Bản án 105/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 02/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Du Thiên L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Du Thiên L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2021. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm tội tàng trữ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Du Thiên L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2021/HSST
Ngày 02-12-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Dũng

2. Bà Đinh Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Thủy- Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Du Thiên L, (tên gọi khác: L) sinh ngày 10 tháng 12 năm 1993 tại Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Tổ, phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Phụ xe; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn N (chết) và bà Trần Thị H (chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án: Ngày 15-01-2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 24-7-2020 chấp hành xong chưa được xóa án tích. Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 22-01-2018 bị Công an phường L, thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 27-3-2018 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Q Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường thời gian 03 tháng kể từ ngày 27-3-2018 đến ngày 27-6-2018 chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25-7-2021 cho đến nay, có mặt.

2. Huỳnh Quốc T, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1999 tại Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Tổ, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Phụ quán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: không xác định, con bà Huỳnh Thị L; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Ngày 26-01-2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 26-01-2021 chấp hành xong chưa được xóa án tích. Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25-7-2021 cho đến nay, có mặt.

3. Lê Đình T, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1997 tại Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Tổ, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Đan rọ đá; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Vũ Đình T và bà Lê Thị H; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25-7-2021 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Thân Đình N, sinh năm 1987, vắng mặt.

2. Anh Thân Đình C, sinh năm 1991, vắng mặt.

Cùng nơi cư trú: Thôn, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 20 phút ngày 25-7-2021, tại đoạn đường N thuộc tổ, phường T, thành phố Q, Phòng Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh Quảng Ngãi bắt quả tang Nguyễn Du Thiên L, Lê Đình T và Huỳnh Quốc T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Tang vật thu giữ: 05 túi nilon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa những hạt tinh thể màu trắng (L khai nhận là ma túy đá) và một số tang vật liên quan. Phòng Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh Quảng Ngãi đã đưa L, Th và Tr về trụ sở Công an phường T bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Du Thiên L, Lê Đình T và Huỳnh Quốc T khai nhận: Do có quen biết với nhau từ trước nên vào khoảng 22 giờ ngày 24-7-2021, Nguyễn Du Thiên L điều khiển xe mô tô biển số 76G1- 210.69 đến nhà Lê Đình T chơi và gặp Huỳnh Quốc T cũng đang ở nhà Th. Đến rạng sáng ngày 25-7-2021, cả ba rủ nhau góp tiền mua ma túy sử dụng. Cụ thể, L góp 700.000 đồng, Th góp 200.000 đồng và Tr góp 100.000 đồng. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 76G1-210.69 chở Th và Tr đến một ngôi nhà trong hẻm đường Q, thành phố Q (không rõ địa chỉ cụ thể) để mua ma túy. Đến nơi, Th và Tr đứng trông xe còn L vào bên trong đưa số tiền 1.000.000 đồng qua ô cửa nhỏ của ngôi nhà thì được một người trong nhà (không rõ lai lịch) đưa ra cho L 05 (năm) túi ma túy dạng “đá”. Sau đó, L cất số ma túy này vào vỏ bao thuốc lá hiệu “555”, để bao thuốc ở ba ga xe mô tô 76G1- 210.69 rồi điều khiển xe mô tô chở Th, Tr tìm nơi sử dụng ma túy. Khi cả ba đến đoạn đường N thuộc tổ, phường T, thành phố Q thì bị bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm:

- Tạm giữ từ Nguyễn Du Thiên L:

+ 05 túi nilon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa những tinh thể màu trắng.

+ 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu xám đen, mặt sau có dòng chữ “Iphone”;

+ 01 con dao bấm màu đen bằng kim loại, bên ngoài có in nổi hình con bò cạp;

+ 01 nỏ thủy tinh.;

+ 01 xe mô tô biển số 76G1-210.69, hiệu Yamaha Sirius, màu xanh;

+ 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh, bên ngoài có dãy số “555”;

+ Tiền mặt: 2.779.000 đồng.

- Tạm giữ từ Lê Đình T:

+ 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu trắng hồng, trên thân điện thoại có dòng chữ “Samsung”;

+ Tiền mặt: 900.000 đồng.

- Tạm giữ từ Huỳnh Quốc T:

+ 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, mặt sau có chữ “Samsung”;

+ 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, trên thẻ có in nổi dòng chữ “HUYNH QUOC TR” và dãy số “9704368616930690018”.

Ngày 28-7-2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi có Kết luận giám định số 684/KLGĐ-PC09, kết luận: Chất rắn dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong phong bì gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine, khối lượng mẫu: 0,79 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ.

Tại Bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 12-10-2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố các bị cáo Nguyễn Du Thiên L, Huỳnh Quốc T và Lê Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Du Thiên L, Huỳnh Quốc T và Lê Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Du Thiên L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Đình T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 xe mô tô 76G1- 210.69 của anh Thân Đình C đứng tên chủ sở hữu. Vào giữa tháng 7/2021, anh Cọt cho anh ruột là Thân Đình N mượn làm phương tiện đi lại. Sau đó, Nam cho Nguyễn Du Thiên L mượn xe này làm phương tiện. Ngày 25-7-2021, L sử dụng xe này làm phương tiện để đi mua ma túy sử dụng thì anh N, anh C hoàn toàn không biết nên đã trả lại cho anh C.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì giấy số 684/PC09 (GĐ-2021), trên giáp lai được đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và các chữ ký giáp lai của các ông Đào Thanh T, Huỳnh Minh N; 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu xanh, bên ngoài có dãy số “555” và 01 (một) con dao bấm màu đen bằng kim loại, bên ngoài có in nổi hình con bò cạp.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Du Thiên L: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu xám đen, mặt sau có dòng chữ “Iphone” và số tiền 2.779.000 đồng.

+ Trả lại cho bị cáo Lê Đình T: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu trắng hồng, trên thân điện thoại có dòng chữ “Samsung” và số tiền 900.000 đồng.

+ Trả lại cho bị cáo Huỳnh Quốc T: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, mặt sau có chữ “Samsung” và 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, trên thẻ có in nổi dòng chữ “HUYNH QUOC TR” và dãy số “9704368616930690018”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Du Thiên L, Huỳnh Quốc T và Lê Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Để có ma túy sử dụng nên khoảng 01 giờ 20 phút ngày 25-7-2021, các bị cáo cùng góp tiền và mua ma túy của một người (không rõ lai lịch) tại một ngôi nhà trong hẻm đường Q, thành phố Q (không rõ địa chỉ cụ thể) 05 (năm) túi nylon chứa ma túy “đá” với số tiền 1.000.000 đồng rồi cất giấu số ma túy này vào vỏ bao thuốc lá hiệu “555”, để bao thuốc ở ba ga xe mô tô 76G1- 210.69. Nguyễn Du Thiên L điều khiển xe mô tô 76G1- 210.69 chở Th và Tr tìm nơi sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang thu giữ 05 (năm) túi nylon chứa ma túy “đá”. Theo kết luận giám định thì tinh thể màu trắng bên trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; có khối lượng là 0,79gam. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Du Thiên L, Huỳnh Quốc T và Lê Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tính chất, mức độ của hành vi: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để có ma túy sử dụng các bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần phải được cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Nguyễn Du Thiên L, ngày 15-01-2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 24-7-2020 chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích. Đối với bị cáo Huỳnh Quốc T, ngày 26-01-2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 26-01-2021 chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích. Do đó, các bị cáo Nguyễn Du Thiên L và Huỳnh Quốc T có tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Lê Đình T không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Du Thiên L, Huỳnh Quốc T và Lê Đình T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo Tr có bà ngoại là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Du Thiên L, Huỳnh Quốc T đều có nhân thân xấu vì đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích. Riêng bị cáo Lê Đình T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Đối với người đã bán ma túy cho các bị cáo, do L khai không đủ thông tin về thân thân lai lịch và cũng không nhớ địa chỉ của ngôi nhà nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi không có cơ sở để xác minh làm rõ. Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, đề nghị xử lý sau là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì giấy số 684/PC09 (GĐ-2021), trên giáp lai được đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và các chữ ký giáp lai của các ông Đào Thanh T, Huỳnh Minh N; 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu xanh, bên ngoài có dãy số “555” và 01 (một) con dao bấm màu đen bằng kim loại, bên ngoài có in nổi hình con bò cạp.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Du Thiên L: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu xám đen, mặt sau có dòng chữ “Iphone” và số tiền 2.779.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo Lê Đình T: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu trắng hồng, trên thân điện thoại có dòng chữ “Samsung” và số tiền 900.000 đồng.

+ Trả lại cho bị cáo Huỳnh Quốc T: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, mặt sau có chữ “Samsung” và 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, trên thẻ có in nổi dòng chữ “HUYNH QUOC TR” và dãy số “9704368616930690018”.

Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Du Thiên L, Huỳnh Quốc T và Lê Đình T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Du Thiên L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Du Thiên L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2021.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2021.

3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Đình T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2021.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì giấy số 684/PC09 (GĐ-2021), trên giáp lai được đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và các chữ ký giáp lai của các ông Đào Thanh T, Huỳnh Minh N; 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu xanh, bên ngoài có dãy số “555” và 01 (một) con dao bấm màu đen bằng kim loại, bên ngoài có in nổi hình con bò cạp.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Du Thiên L: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu xám đen, mặt sau có dòng chữ “Iphone”.

- Trả lại cho bị cáo Lê Đình T: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu trắng hồng, trên thân điện thoại có dòng chữ “Samsung”.

- Trả lại cho bị cáo Huỳnh Quốc T: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, mặt sau có chữ “Samsung” và 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, trên thẻ có in nổi dòng chữ “HUYNH QUOC TR” và dãy số “9704368616930690018”.

Các vật chứng được thể hiện theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18-11-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Du Thiên L số tiền 2.779.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm bảy mươi chín nghìn đồng) và bị cáo Lê Đình T số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) theo ủy nhiệm chi lập ngày 15-11-2021 của Công an thành phố Quảng Ngãi chuyển từ tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi đến tài khoản số 3949.0.1075855.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Du Thiên L, Huỳnh Quốc T và Lê Đình T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ