- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ tr…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: T mức án 12 (mười hai) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2021/HSST Ngày 12 tháng 5 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Cẩm Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Hằng Huệ
2. Bà Lương Thị Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Phương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Võ Yến Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử vụ án hình sự thụ lý số 40/2021/TL - HSST ngày 15 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:
T; Sinh năm: 1993; Nơi ĐKHKTT: 24 Trần Kế Xương, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Nơi ở: không cố định; Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Thành C (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hồng L; Tiền án:
- Bản án số 27/2009/HSST ngày 31/3/2009, Toà án nhân dân quận Tây Hồ xử 36 tháng tù cho hưởng án treo về tội Cướp tài sản. Khi phạm tội được 15 tuổi 01 tháng 03 ngày (Đã xoá án tích theo điều 107 BLHS).
- Bản án số 159/2018/HS-ST ngày 20/11/2018, Toà án nhân dân quận Tây Hồ xử 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ra trại ngày 07/2/2020 (Chưa được xoá án tích).
Bị cáo bị bắt ngày: 30/11/2020; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 30/11/2020, tại khu vực trước cửa số nhà 465 Đội Cấn, phường Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội, tổ cảnh sát cơ động PK02E - Công an thành phố Hà Nội phát hiện T đang điều khiển xe máy Honda Vision màu vàng nâu, biển kiểm soát 29B2 - 090.81 chở Phạm Thuỳ D (sinh năm 1999, HKTT: 47 Thủ Lệ, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện thu giữ trong túi quần bên trái phía trước của T 01 bao thuốc lá Vinataba bên trong có 10 điếu thuốc lá Vinataba và 02 điếu thuốc cuốn thảo mộc khô bên trong (01 điếu đã hút hết một nửa). T khai nhận 02 điếu thuốc cuốn thảo mộc khô là ma tuý cần sa, mua để sử dụng. Tổ công tác đã đưa T cùng tang vật về trụ sở công an phường Vĩnh Phúc để điều tra làm rõ.
Ngoài 02 điếu thuốc cuốn thảo mộc khô, Công an còn thu giữ của T:
- 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen, số sim: 0905936686, số IMEI: 355372088787456;
- 01 xe máy Honda Vision màu vàng nâu, biển kiểm soát 29B2 - 09081.
Bản kết luận giám định số 10573/KLGĐ ngày 08/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - CATP Hà Nội kết luận: Thảo mộc khô bên trong 01 điều thuốc lá tự cuốn và 01 điếu thuốc lá tự cuốn đã hút một nửa là Cần sa, tổng khối lượng: 0,586 gam.
Tại Cơ quan điều tra, T khai: T mua 02 điếu cần sa nói trên của một người bạn xã hội tên là Chiến (không rõ nhân thân lai lịch) tại khu vực phố Ngọc Thuỵ - Long Biên với giá 200.000 đồng. T đã hút nửa điếu, còn lại để vào bao thuốc trong túi quần. Việc T tàng trữ ma tuý D không biết.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch người đã bán ma tuý cho T nên không có căn cứ để xử lý.
Quá trình điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi, lời khai của bị can phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.
Chiếc xe máy Honda Vision màu vàng nâu, biển kiểm soát 29B2 - 09081 qua xác minh là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thuỳ D. Chị D không liên quan đến hành vi của T, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị D quản lý sử dụng.
Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố, luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 04 tháng 3 năm 2021, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
Đề nghị xử phạt T mức án 12 tháng đến 15 tháng tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Tịch thu và tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 01 bao thuốc lá Vinataba bên trong có 10 điếu thuốc lá Vinataba; 01 điếu thuốc lá tự cuốn và bên trong 01 điếu thuốc lá tự cuốn đã hút một nửa là cần sa, khối lượng 0,586 gam, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và T.
- Trả lại 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen, số sim: 0905936686, số IMEI: 355372088787456 cho bị cáo;
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong sớm trở về với gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 30/11/2020, tại khu vực trước cửa số nhà 465 Đội cấn, phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,568 gam ma túy Cần sa mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác PK02E- Công an thành phố Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng. Xét, hành vi tàng trữ trái phép của bị cáo lần này với trọng lượng là 0,568 gam ma túy nhưng nhân thân bị cáo có 01 tiền án năm 2018 bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích cho nên hành vi phạm tội của bị cáo lần này đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy nhưng chỉ vì mục đích sử dụng cho bản thân đã vi phạm pháp luật. Do đó cần thiết xét xử bị cáo nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tiền án trong đó có 01 tiền án đã được xóa án tích. Thể hiện bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhưng bị cáo không chịu cải tạo mình thành người có ích cho gia đình và cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp nên không áp dụng là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 01 bao thuốc lá Vinataba bên trong có 10 điếu thuốc lá Vinataba; 01 điếu thuốc lá tự cuốn và bên trong 01 điếu thuốc lá tự cuốn đã hút một nửa là cần sa, khối lượng 0,586 gam, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và T.
- Chiếc điện thoại Iphone 7 plus màu đen, số sim: 0905936686, số IMEI: 355372088787456 thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo;
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106; Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử phạt: T mức án 12 (mười hai) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn hạn tù tính từ ngày 30/11/2020.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu và tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 01 bao thuốc lá Vinataba bên trong có 10 điếu thuốc lá Vinataba; 01 điếu thuốc lá tự cuốn và bên trong 01 điếu thuốc lá tự cuốn đã hút một nửa là cần sa, khối lượng 0,586 gam, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và T; Vật chứng hiện đang được lưu giữu tại Chi cục thi hành án dân sự quận ba Đình theo biên bản bàn giao vật chứng số 117 ngày 23/3/2021.
- Trả lại 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen, số sim: 0905936686, số IMEI: 355372088787456 cho bị cáo; Vật chứng hiện đang được lưu giữu tại Chi cục thi hành án dân sự quận ba Đình theo biên bản bàn giao vật chứng số 117 ngày 23/3/2021.
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình; - UBND xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA H C H |