vanban.org

Bản án 105/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 21/10/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/10/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Duy T.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2021/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Duy T - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Duy T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2021/HS-PT
Ngày 21- 10 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang

Các Thẩm phán: Ông Lê Lâm Sơn

Ông Trần Bá Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết N - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 110/2021/HS-PT ngày 29 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo Huỳnh Duy T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2021/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Huỳnh Duy T (tên gọi khác: Bé Lớn), sinh năm 1982 tại P, Kiên Giang; Nơi cư trú: Khu phố 8, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn B và bà Tô Thị G; vợ Nguyễn Thị Hướng D, sinh năm 1994; con có 03 người: Lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền sự; Tiền án: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 01 năm 2021 đến ngày 11 tháng 01 năm 2021, Huỳnh Duy T mua ma túy của người đàn ông tên Hòa (chưa rõ nhân thân) với giá 700.000 đồng. Sau khi mua ma túy, T đem về chỗ ở của T thuộc khu phố 5, phường D, thành phố P chia ra thành 12 bịch bán lại cho Trần Thị Tuyết N, Nguyễn Phú H, Phạm Anh H và Nguyễn Văn T1 tổng cộng 11 lần, 11 bịch, còn lại 01 bịch T cất giấu để bán tiếp. Sau khi mua ma túy của T, N bán lại cho Nguyễn Phú H 01 lần, cụ thể như sau:

- Vào đầu tháng 01 năm 2021 (ngày, giờ không nhớ), N điện thoại cho T hỏi mua ma túy, T đến quán cà phê số 39 của N thuộc tổ 1, ấp S, xã D, thành phố P bán ma túy cho N 03 lần, mỗi lần 01 bịch, với giá 1.700.000 đồng/bịch, tổng cộng 5.100.000 đồng. Sau khi mua ma túy, N sử dụng hết.

- Vào ngày 07/01/2021, T đến quán cà phê của N bán cho N 01 bịch ma túy với giá 1.700.000 đồng. Sau khi mua ma túy, N sử dụng hết.

- Vào ngày 09/01/2021, T đến quán cà phê của N bán cho N 01 bịch ma túy với giá 1.700.000 đồng. Sau khi mua ma túy, N sử dụng hết.

- Vào ngày 09/01/2021 (không nhớ giờ), Phạm Anh H đưa cho Nguyễn Văn T1 200.000 đồng để mua ma túy sử dụng chung, T1 điện thoại cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H và T1 đến điểm hẹn trên đường Hùng Vương, thuộc khu phố 5, phường D gặp T, T bán cho T1 01 bịch ma túy, với giá 200.000 đồng.

- Vào khoảng 11 giờ ngày 10/01/2021, Nguyễn Phú H đi đến chỗ ở của T mua ma túy để sử dụng, T kêu H đi ra đường Hùng Vương, thuộc khu phố 5, phường D, T bán cho H 01 bịch ma túy với giá 1.700.000 đồng.

- Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/01/2021, Nguyễn Văn T1 và Phạm Anh H rủ nhau mua ma túy để sử dụng, T1 điện thoại cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, T1 và H đến điểm hẹn trên đường Hùng Vương, thuộc khu phố 5, phường D gặp T, T bán cho T1 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng.

- Vào khoảng 20 giờ ngày 11/01/2021, Nguyễn Phú H đi đến chỗ ở của T mua ma túy để sử dụng, T kêu H đi ra đường Hùng Vương, thuộc khu phố 5 T bán cho H 01 bịch ma túy với giá 1.700.000 đồng.

- Vào khoảng 09 giờ ngày 12/01/2021, Nguyễn Phú H đi bộ đến chỗ ở của T mua ma túy để sử dụng, T kêu H đi ra đường Hùng Vương, thuộc khu phố 5 T bán cho H 01 bịch ma túy với giá 1.500.000 đồng.

- Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/01/2021, N gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, T đi xe mô tô ôm của một người không rõ nhân thân đến quán cà phê của N, bán cho N 01 bịch ma túy với giá 1.700.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, N chiết ra 01 bịch ma túy bán cho Nguyễn Phú H với giá 500.000 đồng tại quán cà phê của N, số ma túy còn lại N chia ra thành 07 bịch nhỏ cất giấu tại quán để bán lại cho người khác. Đến khoảng 16 giờ ngày 12/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P kiểm tra quán cà phê của N, thấy vậy N lấy 07 ma túy cầm trên tay, thì bị phát hiện lập biên bản bắt quả tang. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Duy T, phát hiện thu giữ của T 01 bịch ma túy. Ngày 20/01/2021, Huỳnh Duy T và Trần Thị Tuyết N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

- 07 bịch nylon màu trắng được hàn kín, có kích thước lần lượt như sau: 01 bịch có kích thước 1.5cm x 03cm; 02 bịch có kích thước 0.8cm x 02cm; 01 bịch có kích thước 0.7cm x 1.9cm; 02 bịch có kích thước 0.8cm x 2.2cm; 01 bịch có kích thước 0.9cm x 2.3cm. Bên trong các bịch nylon đều có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất (thu giữ trên tay của Trần Thị Tuyết N khi bắt quả tang), đã được niêm phong;

- 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín, kích thước 1,3cm x 2,2cm, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, không đồng nhất (thu giữ trong phòng của Huỳnh Duy T, trong túi quần jean ở phía trước bên phải), đã được niêm phong;

- 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, màu đen, có số IMEI 1: 357086105693640; số EMEI 2: 357087105693648, đã qua sử dụng (thu giữ trong phòng của Trần Thị Tuyết N), đã được niêm phong;

- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, có số sê-ri 1: 355833093630882; số sê-ri 2: 355833093830888, đã qua sử dụng (thu giữ của Huỳnh Duy T), đã được niêm phong;

Tại kết luận giám định số 62 ngày 19/01/2021 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 07 (bảy) bịch nylon màu trắng được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,9563 gam.

Tại kết luận giám định số 63 ngày 20/01/2021 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2513 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2021/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố P đã quyết định:

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Duy T 08 (Tám) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/01/2021).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và báo quyền kháng cáo trong hạn luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngày 02 tháng 6 năm 2021 bị cáo Huỳnh Duy T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo thừ a nhâ ̣n bản án của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bi ̣ cáo về tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng tô ̣i của bi ̣ cáo và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang giữ quyền công tố ta ̣i phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vu ̣ án như sau: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 là đúng quy định. Bị cáo có hai tình tiết định khung tăng nặng, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án gần đầu khung hình phạt 08 năm tù là không nặng đối với bị cáo; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có nộp đủ số tiền thu lợi bất chính là 15.700.000 đồng là tình tiết mới, tuy nhiên mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là đã phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tinh hợp pháp của đơn kháng cáo: Xét đơn kháng cáo của bi ̣ cáo về nô ̣i

́ dung, quyền kháng cáo, thủ tu ̣c kháng cáo và thờ i ha ̣n kháng cáo đa đũ ́ng quy đi ̣nh ta ̣i các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhâ ̣n xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bi ̣ cáo theo trinh tự phúc thẩm.

̀

Về quyết đi ̣nh của bản án sơ thẩm:

Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, nên trong khoảng thời gian từ đầu tháng 01/2021 đến ngày 11/01/2021 bị cáo Huỳnh Duy T đã bán ma túy cho các con nghiện tổng cộng 11 lần, thu lợi số tiền 15.500.000 đồng. Cụ thể, T bán ma túy cho Trần Thị Tuyết N 06 lần, với số tiền 10.200.000 đồng; bán ma túy cho Nguyễn Phú H 03 lần, với số tiền 4.900.000 đồng; bán ma túy cho Nguyễn Văn T1 02 lần, với số tiền 400.000 đồng; trong đó, có 02 lần bị cáo T bán ma tuý cho cùng lúc 02 người. Qua khám xét tại chỗ ở của T thu giữ được 0,2513 gam ma tuý, loại Methamphetamine mục đích là để bán cho các con nghiện khi có nhu cầu. Do đó, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bi ̣ cáo:

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy qua khám xét tại nhà ở của T, Cơ quan điều tra phát hiện và thu giữ được số lượng ma túy của T cất giấu; qua đấu tranh bị cáo khai nhận mục đích tàng trữ ma túy là để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, và đã tự nguyện khai ra nhiều lần mua bán ma túy với các con nghiện, do đó, cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r (tự thú) khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo là có thiếu sót nên HĐXX nghĩ cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo mới phù hợp. Ngoài ra, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp đủ số tiền thu lợi bất chính là 15.700.000 đồng nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp. Do tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm r khoản 1, 2 Điều 51 BLHS nên HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ nghiêm.

Về quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử Đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có phần hơi nghiêm. Do bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên HĐXX chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Về án phi: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghi ̣

́ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Ủ y ban thương vu ̣ Quốc hô ̣i.

̀

̀

Do bi ̣ cáo kháng cáo được chấp nhâ ̣n nên không phải chi ̣u án phi phúc thẩm.

́

Các quyết đi ̣nh khác của bản án sơ thẩm không bi ̣ kháng cáo, kháng nghi ̣ đa cõ ́ hiê ̣u lực pháp luâ ̣t kể từ ngày hết ha ̣n kháng cáo, kháng nghi ̣.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Duy T.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2021/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Duy T – 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2021.

2. Về án phi: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghi ̣

́ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Ủ y ban thương vu ̣ Quốc hô ̣i

̀

̀ quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo không phải chi ̣u án phi hình sự phúc thẩm.

́

3. Các quyết đi ̣nh khác của Bản án số 70/2021/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang không bị kháng cáo, kháng nghi ̣ đa cõ ́ hiê ̣u lực pháp luâ ̣t kể từ ngày hết ha ̣n kháng cáo, kháng nghi ̣.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ