vanban.org

Bản án 105/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 16/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2021/HS-ST
Ngày: 16/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Mạnh Cường

Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Đặng Thị Thanh Thắm - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 99/2021/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 108/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2021 đối với:

Họ và tên bị cáo: Tạ Văn T1; sinh ngày 14/8/1969; tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: Số 20C/108 đường Đông T2, phường Đông T3, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Tạ Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1938; Vợ Nguyễn Thị T4; bị cáo có 01 con sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 03/11/2010, Tạ Văn T1 bị TAND thành phố H, tỉnh

Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Chấp hành án tại Trại giam Thanh Lâm, Cục C10 - Bộ Công an, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2013 (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa từ

ngày 20/10/2020 đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 20/10/2020, tại khu vực đường Đông T2, phường Đông

T3, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa bắt quả tang, thu giữ trong túi áo bên phải của Tạ Văn T1, sinh năm 1969 ở số nhà 20C/108 đường Đông T2, phường Đông T3, thành phố H 01 gói nilon màu trắng bên trong có chất cục bột màu trắng, nghi là heroine; T1 khai nhận đây là heroine T1 đem theo người để đưa cho Nguyễn Văn M, sinh năm 1970, ở 18/393 đường Trần Hưng Đ, phường N, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa vay. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tạ Văn T1 và niêm phong vật chứng, ký hiệu K.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Tạ Văn T1 tại số nhà 20C/108 đường Đông T2,

Phường Đông T3, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa, thu giữ:

- Thu giữ tại tủ kính trong phòng ngủ của Tạ Văn T1 01 túi nilon màu vàng bên

trong có 03 (ba) túi nilon màu trắng đều đựng chất bột màu trắng dạng nén, niêm phong vật chứng, ký hiệu M1.

- Thu giữ tại tủ quần áo trong phòng ngủ của Tạ Văn T1 01 gói nilon màu đen

đựng 01 túi nilon màu trắng viền đỏ đựng chất bột màu trắng dạng nén, niêm phong vật chứng, ký hiệu M2.

- 01 cân tiểu ly màu đen.

Tạ Văn T1 khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 20/10/2020 Tạ Văn T1 gọi

điện thoại cho Nguyễn Văn M, sinh năm 1970, ở 18/393 đường Trần Hưng Đ, phường N, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa hỏi mua một cây heroine, mục đích để sử dụng; M đồng ý và hẹn khi nào có heroine M sẽ bán cho T1. Khoảng 17 giờ ngày 20/10/2020, T1 đang ở khu vực phường N, thành phố H thì nhận được điện thoại của M, qua điện thoại M nói: “ Tôi đang ở nhà anh, anh ở đâu thì về đi”; T1 nói chuyện xong thì điều khiển xe máy về nhà mình ở số nhà 20C/108 đường Đông T2, phường Đông T3, thành phố H để gặp M. Về đến nhà, T1 thấy M đang đứng ở phía trước nhà mình, tại đây, M nói với T1: “Anh hỏi mua của tôi một cây heroine, tôi đã có heroine ở đây, giá một cây heroine là 31.000.000 đồng”, T1 đồng ý mua heroine và nhận từ M một túi nilon màu đen đựng một cây heroine, rồi T1 đi vào nhà lấy 31.000.000 đồng đưa cho M, M nhận tiền xong thì đi xe máy về. Sau đó T1 đem heroine vừa mua của M lên phòng ngủ ở tầng 2 cất giấu trong tủ quần áo. Đến khoảng 20 giờ, ngày 20/10/2020, T1 đang ở nhà thì nhận được điện thoại của M, qua điện thoại M nói với T1: “ Cho tôi vay 02 chỉ heroine, nếu còn thì đem ra khu vực đường Đông T2 đưa cho tôi”, T1 đồng ý cho M vay 02 chỉ heroine nên T1 lên phòng ngủ, lấy cây heroine mua của M ra chia nhỏ thành nhiều gói nilon. T1 lấy 01 gói nilon màu trắng đựng 02 chỉ heroine cất vào túi áo bên phải T1 đang mặc để cho M vay, số heroine còn lại T1 cất giấu trong tủ kính và tủ quần áo để trong phòng ngủ của mình. Sau đó T1 đi xe máy Honda Dream, màu mận, biển số 36F2 - 1671 từ nhà mình đi đưa heroine cho M, T1 đi đến khu vực đường Đông T2, phường Đông T3, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa thì bị phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa dừng xe, bắt quả tang, thu giữ chất bột màu trắng dạng nén mà T1 để ở túi áo bên phải, Cơ quan điều tra khám xét nhà ở của T1 thu giữ số heroine T1 mua của Nguyễn Văn M vào chiều ngày 20/10/2020.

Kết luận giám định số 2824/PC09 ngày 23/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình

sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Chất bột màu trắng của phong bì ký hiệu K niêm phong gửi giám định là ma

túy. có tổng khối lượng 7,140g ( bảy phẩy một bốn không gam) loại: Heroine;

- Chất màu trắng dạng nén của phong bì kí hiệu M1 niêm phong gửi giám định

là ma túy, có tổng khối lượng 5,601 g ( năm phẩy sáu không một gam) loại: Heroine;

- Chất màu trắng dạng nén của phong bì ký hiệu M2 niêm phong gửi giám định

là ma túy, có tổng khối lượng 31,456 g ( ba một phẩy bốn năm sáu gam) loại: Heroine.

Trong vụ án này, Tạ Văn T1 khai Nguyễn Văn M, sinh năm 1970, ở

18/393 đường Trần Hưng Đ, phường N, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa là người bán cho T1 một cây heroine với giá 31.000.000 đồng vào chiều ngày 20/10/2020 và Nguyễn Văn M là người hỏi vay của Tạ Văn T1 hai chỉ heroine vào tối ngày 20/10/2020. Cơ quan điều tra đã ghi lời khai Nguyễn Văn M, cho T1 và M đối chất nhưng M không thừa nhận đã bán heroine và vay heroine của T1. Tạ Văn T1 cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì ngoài lời khai của mình để làm rõ hành vi của Nguyễn Văn M. Do đó, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn M.

Về vật chứng của vụ án đã thu giữ: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;

01 cân tiểu ly màu đen; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu mận, biển kiểm soát 36F2 - 1671; 01 điện thoại di động Nokia, màu đen, gắn sim số 0978094895. Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Bản Cáo trạng số: 44/CT-VKS-P1 ngày 14/5/2021 của Viện kiểm sát

nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Tạ Văn T1 về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, và

khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Đề nghị HĐXX căn cứ

điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Tạ Văn T1 phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt Tạ Văn T1 từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm tù. Phạt bổ sung 5.000.000đ nộp ngân sách nhà nước.

Về vật chứng: Tiêu hủy toàn bộ ma túy còn lại sau giám định, 01 cân tiểu

ly; tịch thu sung quỹ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu mận, biển kiểm soát 36F2 - 1671; 01 điện thoại di động Nokia. Bị cáo phải chịu án phí HSST.

Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi của mình, xin

HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định tố tụng, và hành vi tố

tụng của: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá; của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá; của Điều tra viên; Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên toà, Tạ Văn T1 thừa nhận:

Khoảng 20 giờ ngày 20/10/2020, tại khu vực đường Đông T2, phường

Đông T3, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa bắt quả tang Tạ Văn T1 đang có hành vi tàng trữ trong người 7,140g heroine. Đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Tạ Văn T1 tại số nhà 20C/108 đường Đông T2, phường Đông T3, thành phố H thu giữ số ma túy Tạ Văn T1 đang tàng trữ tại nhà là 37,057g heroine. Tổng khối lượng ma túy Tạ Văn T1 tàng trữ là 44,197g heroine, mục đích để sử dụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người

phạm tội quả tang hồi 20 giờ ngày 20/10/2020; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 23 giờ 17 phút ngày 20/10/2020; biên bản hỏi cung bị cáo, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

[3] Hành vi của Tạ Văn T1 đã cấu thành tội " Tàng trữ trái phép chất ma

túy", tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố Tạ Văn T1 là chính xác, đúng người, đúng tội.

[4] Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo

đã từng bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhận thức rõ tác hại của ma tuý và hình phạt đối với các tội phạm liên quan đến ma tuý rất nghiêm khắc, nhưng đã có hành vi tàng trữ 44,197gam loại heroine nhằm mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo xâm hại chế độ độc quyền về quản lý ma tuý của Nhà

nước, ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành

khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố vợ là ông Nguyễn M Thông là thương binh, được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba và Huân Chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhưng có nhân thân xấu, năm 2010 bị

xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[6]. Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 BLHS, phạt bị cáo

5.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

[7]. Về vật chứng: Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Cục Thi hành án

dân sự là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước và tiêu hủy, cụ thể:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định, 01 cân

tiểu ly; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia, 01 xe 01 xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 36F2 – 1671.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo

quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Tạ Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng: Điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2

Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Tạ Văn T1: 10 (mười năm), 06 (sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ

ngày 20/10/2020.

Phạt Tạ Văn T1: 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS 2015.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định; 01 cân

tiểu ly màu đen.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia màu đen,

01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 36F2-1671.

Các vật chứng được mô tả chi tiết tại các mục 1.2.3.4. Biên bản giao nhận

vật chứng số 127/2021/TV-CTHADS ngày 18/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc Tạ Văn T1 phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tạ Văn T1 có mặt tại phiên tòa, có quyền

kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ