- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Đ phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:105/2021/HS-ST Ngày: 30/12/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - TỈNH NINH BÌNH.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Ngọc Vường.
Ông Nguyễn Văn Phiếu.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 99/2021/TL-HSST, ngày 29 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2021/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Bùi Văn Đ - sinh năm 1987, tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn B, xã L, Hện Q, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Ch và bà Bùi Thị H; vợ Bùi Thị Th và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2021, cHển tạm giam ngày ngày 22/05/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Bùi Văn T, sinh năm 1989; chị Bùi Thị Y, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Trú tại: thôn B, xã L, Hên Q, tỉnh Ninh Bình.
Anh Bùi Công H, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
Trú tại: thôn B, xã L, Hên Q, tỉnh Ninh Bình.
Anh Trần Văn H, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Trú tại: thôn Kh, xã Tr, Hên V, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn Đ là người nghiện ma túy, loại Heroine; Khoảng 19 giờ ngày 12/5/2021, Bùi Văn Đ đi nhờ xe mô tô của người đi đường không quen biết từ nhà đi đến địa phận huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa để tìm mua Heroine về sử dụng và bán lại cho người nghiện để kiếm lời. Khi Đ đi đến khu vực cầu Đò Lèn, thuộc địa phận huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa thì Đ gặp 01 người nam giới không quen biết trông giống người nghiện đứng ở ven đường, Đ đi lại gần người nam giới và hỏi: “Anh có hàng không”, mục đích Đ muốn hỏi mua Heroine của người nam giới, người này hiểu ý Đ nên nói: “Có, mua bao nhiêu” thì Đ trả lời: “Anh bán em một triệu một trăm năm mươi nghìn” thì người này đồng ý. Bùi Văn Đ đưa cho người nam giới số tiền 1.150.000đồng, người này cầm tiền rồi nói với Đ: “Đợi một lúc”. Sau đó người nam giới điều khiển xe mô tô đi đâu đó khoảng 05 phút thì quay lại gặp và đưa cho Bùi Văn Đ 01 túi ni lông màu trắng, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng. Đ mở ra kiểm tra xác định đúng là Heroine nên cầm lấy rồi đi nhờ xe của người đi đường không quen biết ra về. Sau khi về đến nhà, Đ lấy 01 túi ni lông màu trắng, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng vừa mua được của người nam giới và chia ra thành 12 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. Sau khi chia ma túy xong, Đ bỏ toàn bộ số ma túy vào 01 túi ni lông màu trắng có chữ FANNI rồi cất giấu tại túi quần của Đ với mục đích bán để kiếm lời.
Cơ quan điều tra đã chứng minh trong khoảng thời gian từ ngày 13/05/2021 đến ngày 14/05/2021, Bùi Văn Đ đã 02 lần bán trái phép Heroine cho người nghiện để kiếm lời, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 13/5/2021, khi Bùi Văn Đ đang ở nhà thì Bùi Văn T sinh năm 1989 trú tại thôn B, xã L, huyện Q, tỉnh Ninh Bình là người nghiện Heroine đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh lắp sim số 0329.248.543 để gọi vào điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đen lắp sim số 0365.191.564 của Đ để hỏi mua 01 gói Heroine với giá 200.000đồng thì Đ đồng ý và hẹn T đến nhà Đ để bán ma túy.
Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi Bùi Văn T đi đến gần nhà Đ đã tiếp tục sử dụng điện thoại lắp sim số nêu trên để gọi thông báo cho Đ biết T đã đến nơi. Lúc này Đ đã mang theo ma túy rồi đi bộ một đoạn ra khu vực đường gần nhà Đ để gặp T. Tại đây, do T không có tiền mặt nên T nói với Bùi Văn Đ: “Tao không có tiền đâu”, đồng thời Bùi Văn T đã đề nghị bán cho Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh đen với giá 400.000đồng để lấy tiền mua ma túy của Đ thì Đ đồng ý. Sau khi thống nhất, T đã tháo chiếc sim 0329.248.543 ra và đưa chiếc điện thoại trên cho Bùi Văn Đ. Bùi Văn Đ cầm điện thoại và đưa lại cho T 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, T mở ra kiểm tra xác định đúng là Heroine nên gói lại đồng thời Đ và T thỏa thuận gói Heroine trên có giá là 200.000đồng. Còn lại số tiền 200.000đồng trên tổng giá trị chiếc điện thoại của T vừa thỏa thuận bán cho Đ thì T nói với Đ lần sau nếu T có nhu cầu sử dụng ma túy thì T sẽ mua tiếp. Sau đó Đ đi vào trong nhà mình, còn T đi bộ về nhà lấy gói Heroine vừa mua được của Đ sử dụng hết cho bản thân bằng hình thức hít.
Lần thứ hai:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/5/2021, khi Bùi Văn Đ đang ở nhà thì Bùi Văn T do có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã sử dụng điện thoại nhãn hiệu Vivo màu xanh lắp sim số 0329.248.543 để gọi vào điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đen lắp sim số 0365.191.564 của Đ và nói với Đ là T mua tiếp 200.000đồng Heroinne và nhờ Bùi Công H sinh năm 1996 trú tại thôn B, xã L, huyện Q, tỉnh Ninh Bình cũng là người nghiện Heroine đến nhà Đ để lấy cho T 01 gói Heroine còn lại cho T thì Đ đồng ý. Sau đó Bùi Văn T sử dụng điện thoại nhãn hiệu Vivo màu xanh lắp sim số 0329.248.543 truy cập vào ứng dụng mạng xã hội Facebook Messenger mang tên “Út Nhị Gia” của T để liên lạc với tài khoản mạng xã hội Facebook Messenger mang tên “Gia H” được cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đồng lắp sim số 0363.035.737 của Bùi Công H để bảo H đến nhà Đ lấy 01 gói Heroine để cả hai sử dụng chung. Lúc này H hỏi T có phải mang theo tiền để thanh toán cho Đ không thì T nói cho H biết là trước đó T đã bán điện thoại cho Đ, Đ còn nợ 200.000đồng nên T dặn H không cần phải trả tiền cho Đ. Đồng thời T thống nhất với H sau khi sử dụng chung gói Heroine trên với T thì H phải thanh toán một nửa giá trị gói Heroine mà T mua của Đ, cụ thể là số tiền 100.000đồng thì H đã đồng ý.
Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, Bùi Công H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen đỏ, BKS: 35H5 - 2513 đi đến nhà Đ, khi gặp Đ thì H nói: “Em đến lấy gói ma túy cho anh T” thì Đ đã đưa cho H 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. Bùi Công H mở ra kiểm tra xác định đúng là Heroine nên cầm lấy rồi điều khiển xe mô tô đi ra khu vực nghĩa trang thôn Đồng Bài, xã Quảng lạc, Hện Nho Quan để đưa gói Heroine vừa lấy được của Đ đưa cho T. Tại đây Bùi Văn T và Bùi Công H đã cùng nhau sử dụng hết gói Heroine nêu trên, sau đó cả hai ra về. Hôm sau, tức ngày 15/5/2021, Bùi Công H đã trả cho Bùi Văn T 100.000đồng là số tiền góp chung với T để mua ma túy của Đ về sử dụng.
Đến hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan đi vào nhà Bùi Văn Đ để tiến hành triệu tập Đ làm việc. Lúc này do biết không thể che giấu được hành vi cất giấu trái phép trên người nên Đ đã lấy ra từ trong túi quần bên phải đang mặc của Đ có 01 túi ni lông bên trong có 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng để giao nộp cho Tổ công tác. Bùi Văn Đ khai nhận 01 gói nhỏ có đặc điểm nêu trên là gói Heroine của Đ mua về cất giấu nhằm mục đích bán để kiếm lời.
Tổ công tác đã lập biên bản và thu giữ của Bùi Văn Đ 01 túi ni lông màu trắng có chữ FANNI, có KT(10,2x7,2)cm bên trong có 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của Bùi Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đen lắp sim số 0365.191.564 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, không lắp sim.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn Đ, Cơ quan điều tra đã thu giữ: Tại vị trí dưới mặt chiếu cói màu vàng phía cuối giường gỗ (giường ngủ của Bùi Văn Đ) đặt tại góc trong giáp đốc tường bên phải theo hướng từ cửa vào nhà ở của Bùi Văn Đ: 01 túi ni lông màu trắng, có KT(5,5x4)cm, bên trong có bám dính chất bột màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 389/KLGĐ-PC09-MT ngày 21/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“ - Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1395 (không phẩy một nghìn ba trăm chín mươi lăm) gam, là ma túy, loại Heroine.
- Mẫu chất bột màu trắng bám dính trong túi nilon gửi giám định là ma túy túy, loại Heroine. Lượng ma túy bám dính ít, không xác định được khối lượng.
Tại bản Cáo trạng số: 99/CT- VKS ngày 26/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Áp dụng điểm b khoản 2; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ từ 07 năm tù đến 07 năm sáu tháng tù. Thời hạn chấp phành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/05/2021. Phạt bổ sung từ 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 0,0739 gam Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 389/KLGĐ-PC09-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng;
- vỏ túi nilon cùng bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 389/KLGĐ-PC09-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng;
- 04 vỏ phong bì niêm phong các điện thoại di động thu giữ của bị cáo và người có liên quan và vỏ phong bì niêm phong điện thoại ban đầu.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đen lắp sim 0365.191.564 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh không lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đồng lắp sim 0363.035.737 và 01 sim điện thoại 0329.248.543.
Trả lại cho chị Bùi Thị Y: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.
Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng, biên bản khám xét, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác đã được xem xét công khai tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 13/5/2021 đến ngày 14/5/2021, Bùi Văn Đ đã có hành vi 02 lần bán trái phép Heroine cho Bùi Văn T là người nghiện ma túy nhằm mục đích kiếm lời; cụ thể:
- Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 13/5/2021, tại khu vực đường thôn Đồng Bài, xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan, Đ đã bán trái phép 01 gói Heroine cho T với giá tiền 200.000 đồng;
- Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/5/2021, Đ đã giao dịch để bán trái phép 01 gói Heroine cho T với giá tiền 200.000 đồng. Sau đó do có việc nên T đã nhờ bạn của mình là Bùi Công H cũng là người nghiện ma túy đến nhà Đ để lấy gói Heroine mà T vừa hỏi mua của Đ do T và H cùng thống nhất với nhau góp chung tiền để mua về sử dụng chung gói ma túy này. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, khi H đến gia đình nhà Đ ở thôn Đồng Bài, xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan thì Đ đã đưa 01 gói Heroine cho H để bán cho T với giá tiền như đã thoản thuận trước đó.
Ngoài ra, Hồi 17 giờ 30 phút ngày 14/5/2021 tại gia đình nhà Đ ở thôn B, xã L, huyện Q. Tổ công tác Công an xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan đã phát hiện bắt quả tang Đ còn có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,1395 gam nhằm mục đích bán để kiếm lời. Điều 251 Bộ luật hình sự quy đinh về tội “mua bán trái phép chất ma túy” như sau:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
……………………………………………..
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
……………………………………………..
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
……………………………………………..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình Điều tra, truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Hội xét xử thấy tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,0739 gam Heroine là chất nhà nước cấm lưu hành và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 389/KLGĐ-PC09-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng; vỏ túi nilon cùng bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 389/KLGĐ-PC09-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng; 04 vỏ phong bì niêm phong các điện thoại di động thu giữ của bị cáo và người có liên quan và vỏ phong bì niêm phong điện thoại ban đầu không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đen lắp sim 0365.191.564 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh không lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đồng lắp sim 0363.035.737 và 01 sim điện thoại 0329.248.543 là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị Y, chị Y không biết anh T dùng để liên lạc mua ma túy nên trả lại cho chị Bùi Thị Y.
Trong vụ án có các anh Bùi Văn T, Bùi Công H mua Heroine của Bùi Văn Đ đã sử dụng hết số ma túy, Công an Hện Nho Quan đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh T và anh H là có căn cứ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:
Bùi Văn Đ 07 (Bảy năm) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 14/5/2021. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đồng sung ngân sách nhà nước.
3. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
3.1. Tịch thu tiêu hủy: 0,0739 gam Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 389/KLGĐ-PC09-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng; vỏ túi nilon cùng bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 389/KLGĐ-PC09-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng; 04 vỏ phong bì niêm phong các điện thoại di động thu giữ của bị cáo và người có liên quan và vỏ phong bì niêm phong điện thoại ban đầu.
3.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đen lắp sim 0365.191.564 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh không lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đồng lắp sim 0363.035.737 và 01 sim điện thoại 0329.248.543.
3.3. Trả lại cho chị Bùi Thị Y 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.
(Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nho Quan và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Bùi Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - Toà án ND, VKSND tỉnh NB. - VKSND- huyện NQ. - Người tham gia TT - THA- CA.huyện NQ. - Lưu HS. | (Đã ký) Nguyễn Anh Tuấn |