vanban.org

Bản án 105/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Trần Phi Hùng: ( ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/5/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH – TỈNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 105/2020/HSST

Ngày: 06/05/2020

TAND TP TH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH – TỈNH TH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Khắc Mã 2. Ông Nguyễn Ngọc Đức Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan cán bộ toà án nhân dân TP TH. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TH tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Tiến - Kiểm sát viên. Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố TH xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 70/2020/TLST-HS ngày 20/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2020/QĐXXST-HS ngày 20/03/2020 đối với các bị cáo: 1. Họ và tên: Nguyễn Văn K; Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1971 Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT: tổ 13, phường Túc Duyên, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không;Con ông: Nguyễn Văn Đồng (Đã chết); Con bà: Vũ Thị Thanh (Đã chết); Gia đình có 7 anh em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị Sang, sinh năm 1977; Có 02 con: Lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997. - Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C an tỉnh TH (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2020 đến nay). 2. Họ và tên: Nguyễn Văn C; Sinh ngày 06 tháng 6 năm 1961. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT: xóm Làng Phan, xã Linh Sơn, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 07/10;Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi

phạm tội: Không; Con ông: Nguyễn Văn Long (Đã chết); Con bà: Vũ Thị Phú (Đã chết); Gia đình có 7 chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Vũ Thị Hải, sinh năm 1966; Có 02 con: Lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991. Tiền án: Không; Tiền sự: Không Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C an tỉnh TH (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2020 đến nay). * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Chị Nguyễn Thị S sinh năm 1977 Địa chỉ: Tổ 13, phường Túc Duyên, thành phố TH (Có mặt) * Người làm chứng: Nguyễn Quỳnh Ng, sinh năm 1991 (Vắng mặt) Địa chỉ: Xóm Làng Phan, xã Linh Sơn, TP TH, tỉnh TH. * Người chứng kiến: 1. Nguyễn Văn B, sinh năm 1957(Vắng mặt) Địa chỉ: Xóm Đồng Tâm, phường Đồng Bẩm, TP TH, tỉnh TH. 2. Kiều Thị N, sinh năm 1937 (Vắng mặt) Địa chỉ: Xóm Đồng Tâm, phường Đồng Bẩm, TP TH, tỉnh TH. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 10 phút ngày 04/01/2020, Tổ C tác C an phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà bà Kiều Thị Nội (sinh năm 1937, Trú tại: tổ dân phố Đồng Tâm, phường Đồng Bẩm, thành phố TH) có một số đối tượng có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ C tác tiến hành kiểm tra, phát hiện tại phòng khách nhà bà Nội có hai người đàn ông khai tên là Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn C. Qua kiểm tra, K tự giác giao nộp 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu K1). Kiểm tra đối với C, tổ C tác phát hiện thu giữ 01 (một) gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu C1). K và C khai là ma túy để sử dụng cho bản thân. Tổ C tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn C và thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra tổ C tác còn tạm giữ của K 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu xanh đen, biển kiểm soát 20B2-073.44, số khung RLHJF7302GY077097, số máy JF73E0076544, đã qua sử dụng và tạm giữ của C 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 20B1- 749.63, số khung RLHHC1259FY023117, số máy HC12E7023265, đã qua sử dụng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thành phố TH tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: số chất bột màu trắng thu giữ của K có khối lượng 0,194 gam; số chất bột màu trắng thu giữ của C có khối lượng 0,127 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 167/KL- KTHS ngày 12/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh TH kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu K1 là chất ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,194 gam; Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu C1 là chất ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,127 gam. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn C khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 04/01/2020, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i màu xanh đen, biển kiểm soát 20B2-073.44 đi từ nhà ở tổ 13, phường Túc Duyên, thành phố TH đến khu vực cầu Gia Bảy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố TH để mua ma túy sử dụng. Tại đây, K gặp và mua 01 gói ma túy Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 170.000 đồng, sau đó K đi đến nhà bà Kiều Thị Nội để làm vườn giúp bà Nội. Khoảng 09 giờ cùng ngày, C mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 20B1-749.63 của con gái là chị Nguyễn Quỳnh Nga (sinh năm 1991, trú tại: xóm Làng Phan, xã Linh Sơn, thành phố TH), đi từ nhà ở xóm Làng Phan, xã Linh Sơn, thành phố TH đến nhà bà Nội để giúp việc làm vườn. Lúc này, bà Nội đang ở dưới bếp, còn C và K đang ngồi ở phòng khách của nhà bà Nội, C hỏi xin K ma túy để sử dụng, K đồng ý và lấy 01 gói ma túy vừa mua được từ trong túi áo bên phải đang mặc, đổ một phần sang một mảnh giấy bạc nhặt dưới đất, gói vào đưa cho C và giữ lại một phần để sử dụng. Đến 10 giờ 10 phút ngày 04/01/2020, khi K và C đang cất giấu ma túy chưa kịp sử dụng thì bị tổ C tác C an phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên. Lời khai của Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn C phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vật chứng của vụ án: - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 20B1-749.63, số khung RLHHC1259FY023117, số máy HC12E7023265, đã qua sử dụng. Hiện đã được trả lại cho chị Nguyễn Quỳnh Nga là chủ sở hữu quản lý, sử dụng. - 02 (hai) bì niêm phong ký hiệu K1, C1 bên trong chứa ma túy;01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu xanh đen, biển kiểm soát 20B2-073.44, số khung RLHJF7302GY077097, số máy JF73E0076544, đã qua sử dụng; Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH chờ xử lý. Tại bản cáo trạng số 88/CT- VKSTPTN, ngày 27/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, tỉnh TH đã truy tố Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TH giữ quyền C tố đã C bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 18 đến 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. - Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 18 đến 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. - Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: + Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bì niêm phong ký hiệu K1, C1 bên trong chứa ma túy; - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Sang 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu xanh đen, biển kiểm soát 20B2-073.44, số khung RLHJF7302GY077097, số máy JF73E0076544, đã qua sử dụng quản lý, sử dụng. - Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Trong phần tranh luận, các bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử

nhận thấy:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn C tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy nên vào hồi 10 giờ 10 phút ngày 04/01/2020 tại khu vực Tổ dân phố Đồng Tâm, phường Đồng Bẩm, thành phố TH, Nguyễn Văn K, đã có hành vi tàng trữ 0,194 gam Heroine; Nguyễn Văn C đã có hành vi tàng trữ 0,127gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như nêu trên. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của K, C để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán cho người khác thu lời bất chính đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” TTộộii pphhạạmm vvàà hhììnnhh pphhạạtt ccủủaa các bị cáo được quy định tại đđiiểểmm cc,, kkhhooảảnn 11 ĐĐiiềềuu 224499 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự nnăămm 22001155.. NNộộii dduunngg đđiiềềuu lluuậậtt qquuyy đđịịnnhh nnhhưư ssaauu:: ““ 11.. NNggưườờii nnààoo ttàànngg ttrrữữ ttrrááii pphhéépp cchhấấtt mmaa ttúúyy mmàà kkhhôônngg nnhhằằmm mmụụcc đđíícchh mmuuaa bbáánn,, vvậậnn cchhuuyyểểnn,, ssảảnn xxuuấấtt ttrrááii pphhéépp cchhấấtt mmaa ttúúyy tthhuuộộcc mmộộtt ttrroonngg ccáácc ttrrưườờnngg hhợợpp ssaauu đđââyy,, tthhìì bbịị pphhạạtt ttùù ttừừ 0011 nnăămm đđếếnn 0055 nnăămm ........ c, Heroine ...... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. [3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. [4] . Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng: - Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo biết rõ ma túy là mặt hàng cấm do Nhà nước độc quyền quản lý, là nguyên nhân gây ra các loại tệ nạn xã hội khác, song do nghiện ma túy các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Việc đưa ra xét xử đối với các bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung. - Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với các bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Nguyễn Văn K chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện ma túy dẫn đến phạm tội. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn,ăn năn hối cải vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS, bị cáo có bố đẻ là người có C với cách mạng được nhà nước khen tặng huân chương kháng chiến, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn C, chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện ma túy. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn,ăn năn hối cải vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS. - Xét về vai trò đồng phạm trong vụ án này là đối với các bị cáo là đồng phạm giản đơn do các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, nên tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo là ngang nhau. [5]. Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. [6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo K, C là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định. Các bị cáo không có tài sản gì riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. [7]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS + Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu K1, C1 bên trong có chứa ma túy, mặt sau phong bì có 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh TH cùng chữ ký của Nguyễn Thành Trung. + Về chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu xanh đen, biển kiểm soát 20B2-073.44, số khung RLHJF7302GY077097, số máy JF73E0076544, đã qua sử dụng giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn K. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn K khai chiếc xe trên là tài sản chung của bị cáo và vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị Sang, mục đích mua để sử dụng phương tiện sinh hoạt trong gia đình, giấy đăng ký xe mang tên của K là để K tiện sử dụng khi tham gia giao thông. Chị Sang xác định chiếc xe máy trên do vợ chồng chị cùng bỏ tiền ra mua, nên chị Sang đề nghị được trả lại chiếc xe trên để quản lý, sử dụng . Xét thấy bị cáo sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy nhưng chị Sang không biết, xác định đây là tài sản chung của vợ chồng nên cần trả lại cho chị Sang quản lý, sử dụng là phù hợp. [8]. Các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, bị can K khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu Gia Bảy thuộc phường Đồng Bẩm, thành phố TH, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của

người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thành phố TH không có cơ sở làm rõ để xử lý. Đối với bà Kiều Thị Nội, quá trình điều tra xác định bà Nội không biết K và C cất giấu ma túy trong người khi đến nhà, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thành phố Thái Nguyên không xử lý là có căn cứ. [9]. Các bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K và bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K : 18 ( Mười tám ) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/01/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C : 16 ( Mười sáu) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/01/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. * Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn C mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án; 2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015: + Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu K1, C1 bên trong có chứa ma túy, mặt sau mỗi phong bì có 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh TH cùng chữ ký của Nguyễn Thành Trung. + Trả lại cho chị Nguyễn Thị Sang 01(một) xe mô tô đã qua sử dụng, BKS: 20B2- 073.44 nhãn hiệu HONDA, số loại: SH125i, dung tích: 124, màu sơn: xanh đen, số máy JF73E0076544, số khung RLHJF7302GY077097, không có gương chiếu hậu( xe đã qua sử dụng). (Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 159 ngày 20/02/2020)

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), án phí hình sự sơ thẩm. 4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ