vanban.org

Bản án 105/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 23/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Sơn Thái T và Lý B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Sơn Thái T 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 28-7-2020. Xử phạt bị cáo Lý B 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 28-7-2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơn Thái T và ĐB - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Sơn Thái T và Lý B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________
Bản án số: 105/2020/HS-ST
Ngày 23-11-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Tấn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Châu

2. Ông Huỳnh Phước

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố S.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2020/QXXST-HS ngày 10-11-2020 đối với các bị cáo:

1. Sơn Thái T, sinh ngày 30-01-1999; Nơi sinh: Sóc Trăng; Nơi thường trú: ấp N, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Con ông Sơn Thái H và bà Dương Thị H; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 28-7-2020 cho đến nay. (có mặt)

2. Lý B, sinh ngày 02-01-2001; Nơi sinh: Sóc Trăng; Nơi thường trú: ấp Tân Q, xã Tân H, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Con ông Lý C và bà Mai Thị S; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 28-7-2020 cho đến nay. (có mặt)

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Phạm Văn H là Luật sư Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 50 phút, ngày 28-7-2020, Đội Cảnh sat Điều tra Tội phạm về ma túy - Công an thành phố S kết hợp với Đội Cảnh sát giao thông thành phố S phát hiện bắt quả tang Sơn Thái T và Lý B có hành vi tàng trự trái phép chất ma túy tại khu vực trước nhà Số 313 đường N, Khóm 3, Phường 6, thành phố S. T là người điều khiển xe biển số 51X2-4267 chở B cất giấu ma túy trong người. Khi T chở B đi từ đường H vào đường N thì lực lượng công an nghi vấn nên ra lệnh dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện Lý B ném bịch ma túy xuống nắp cống thoát nước tại khu vực trước nhà Số 313 đường N, Khóm 3, Phường 6, thành phố S, nghi vấn đây là chất ma túy, nên lực lượng công an tiến hành thu giữ, niêm phong và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và B.

Tại Kết luận giám định số 107/GĐMT-PC09 ngày 06-8-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,1906 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra Sơn Thái T và Lý B khai nhận: Vào khoảng 18 giờ ngày 28-7-2020, B đang ở nhà tại ấp Tân Q, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng thì Sơn Thái T gọi điện thoại rủ B đi lấy xe cùng T ở K, huyện T, tỉnh Sóc Trăng thì B đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển số 51X2-4267 chở B đi lấy xe nhưng do chưa sửa xong nên T rủ B đi thành phố S uống cà phê. Trên đường đi, thì T và B gặp người bạn gọi là hia ở V có bán ma túy đang chạy xe chở bạn gái nên T rủ B mua ma túy về cùng sử dụng. T và B chạy theo người thanh niên đến khu vực Công viên 30/4, thành phố S thì dừng lại. B hỏi người thanh niên có bán thiếu ma túy không thì người này đồng ý. Sau đó, người thanh niên kêu T và B đi tìm nhà nghỉ để sử dụng ma túy nên T chở B đi đến đường H, thành phố S để thuê nhà nghỉ nhưng do không có chứng minh nhân dân nên không thuê được. Khi T chở B quay chở ra thì người thanh niên đưa cho B 01 gói thuốc lá hiệu Hero bên trong có chứa 01 bịch ma túy màu trắng, B cất giấu bịch ma túy trong túi quần bên trái phía trước và người thanh niên nói là đi cầm đi rồi chở bạn gái bạn gái về rồi sẽ gọi cho hay. Khi T chở B trên đường N, thành phố S thì bị lực lượng công an lệnh dừng xe để kiểm tra, B sợ quá nên lấy bịch ma túy đá trong gói thuốc Hero bỏ vào miệng cống thoát nước trước nhà Số 313 đường N, Khóm 3, Phường 6, thành phố S thì bị lực lượng công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại Cáo trạng số 114/VKS.TPST ngày 26-10-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố S đã truy tố các bị cáo Sơn Thái T và Lý B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Sơn Thái T và Lý B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo. Đề nghị xử phạt mỗi bị cáo 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 của Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 107/GĐMT-PC09 ngày 06-8-2020 của Phòng KTHS CA tỉnh ST, có chữ ký của giám định viên Phạm Thanh Trường, Quyền; 01 võ thuốc lá hiệu Hêro; 02 đoạn ống hút màu trắng, không đo kích thước; 01 đoạn ống thủy tinh, không đo kích thước; 01 nắp nhựa màu trắng được khoét hai lỗ không đo kích thước; 01 quẹt gas màu trắng đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu vàng – đen đã qua sử dụng.

Trả cho bị cáo Sơn Thái T: 01 điện thoại di động màu trắng - đen có chữ OPPO có sim 0354.456.131.

Trả cho bị cáo Lý B: 01 điện thoại di động màu đen có chữ OPPO có sim 0393.255018.

Giao xe mô tô biển kiểm soát là 51X2-4267 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy biển số xe 51X2-4267 tên chủ xe Đặng Minh N cho Cơ quan Điều tra – Công an thành phố S tiếp tục quản lý để xác minh làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo thống nhất với nội dung Cáo trạng và việc áp dụng pháp luật như Kiểm sát viên đề nghị. Do các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân của các bị cáo trong lúc lượng hình để xử phạt các bị cáo ở mức khởi điểm của Kiểm sát viên đề nghị là cũng đủ giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành người tốt giúp ích cho gia đình và xã hội.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng tội. Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, các bị cáo Sơn Thái T và Lý B đã khai nhận:

Vào khoảng 18 giờ ngày 28-7-2020, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 51X2-4267 chở B đi đến thành phố S để uống cà phê thì gặp người bạn gọi là hia ở Vĩnh Châu có bán ma túy đang chạy xe chở bạn gái nên T rủ B mua ma túy về cùng sử dụng thì B đồng ý. Sau đó, T và B chạy theo người thanh niên đến khu vực Công viên 30/4, thành phố S thì dừng lại hỏi mua thiếu 01 bịch ma túy đá với giá 200.000 đồng thì người này đồng ý nên T và B đi đến đường Hồ Nước Ngọt, thành phố S để thuê nhà nghỉ sử dụng ma túy nhưng không thuê được. Khi bị cáo T chở B quay chở ra thì người thanh niên đưa cho bị cáo B 01 gói thuốc lá hiệu Hero bên trong có chứa 01 bịch ma túy thì B cất giấu bịch ma túy trong túi quần bên trái phía trước rồi người thanh niên bỏ đi về. Khi bị cáo T chở B trước nhà Số 313 đường N, Khóm 3, Phường 6, thành phố S thì bị lực lượng công an ra lệnh dừng xe kiểm tra nên B bỏ vào miệng cống thoát nước thì bắt quả tang và thu giữ ma túy.

. Lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Đối với các bị cáo Sơn Thái T và Lý B đã cùng thống nhất mua 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng đem về cất giấu nhằm mục đích sử dụng, qua giám định là Methamphetamine, có khối lượng là 0,1906 gam. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Sơn Thái T và Lý B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Các bị cáo đã cùng thống nhất thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công vai trò cụ thể cho từng bị cáo nên không thuộc trường đồng phạm có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Vai trò cụ thể của từng bị cáo như sau:

Đối với bị cáo Sơn Thái T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo B cùng mua 01 bịch ma túy đá đem về cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo còn là người thực hành tích cực, chính bị cáo là người điều khiển xe chở B đi mua ma túy về để sử dụng. Nên cần xử phạt bị cáo nghiêm thì mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với bị cáo Lý B là một đồng phạm với vai trò là người giúp sức tích cực, sau khi nghe bị cáo T rủ cùng mua ma túy về cất giấu để sử dụng thì bị cáo đồng tình hưởng ứng. Chính bị cáo là người đã cất giấu 01 bịch ma túy trong người đem về cùng sử dụng với bị cáo T. Nên cần xử phạt bị cáo nghiêm thì mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Các bị cáo là người dân tộc Khmer. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

. Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho các bị cáo, do không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên cơ quan Điều tra chưa làm việc được. Đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

. Về xử lý vật chứng của vụ án như sau:

Đối vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật dùng để cất giấu ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động màu trắng - đen có chữ OPPO có sim 0354.456.131 là của cá nhân bị cáo T không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T.

Đối với 01 điện thoại di động màu đen có chữ OPPO có sim 0393.255018 là của cá nhân bị cáo B không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo B.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát là 51X2-4267 có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy biển số xe 51X2-4267 tên chủ xe Đặng Minh Nguyên do chưa làm rõ được chủ sở hữu nên cần giao cho Cơ quan Điều tra – Công an thành phố S tiếp tục quản lý để xác minh làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về hình phạt cần xử phạt các bị cáo ở mức khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Sơn Thái T.

Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lý B.

Căn cứ vào điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Sơn Thái T và Lý B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt bị cáo Sơn Thái T 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 28-7-2020.

2. Xử phạt bị cáo Lý B 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 28-7-2020.

3. Về xử lý vật chứng: Theo Phiếu nhập kho số NK010 ngày 26-10-2020 của Chi cục Thi hành Dân sự thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 107/GĐMT-PC09 ngày 06-8-2020 của Phòng KTHS CA tỉnh ST, có chữ ký của giám định viên Phạm Thanh Trường, Quyền; 01 võ thuốc lá hiệu Hêro; 02 đoạn ống hút màu trắng, không đo kích thước; 01 đoạn ống thủy tinh, không đo kích thước; 01 nắp nhựa màu trắng được khoét hai lỗ không đo kích thước; 01 quẹt gas màu trắng đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu vàng – đen đã qua sử dụng.

Trả cho bị cáo Sơn Thái T: 01 điện thoại di động màu trắng - đen có chữ OPPO có sim 0354.456.131.

Trả cho bị cáo Lý B: 01 điện thoại di động màu đen có chữ OPPO có sim 0393.255018.

Giao xe mô tô biển kiểm soát là 51X2-4267 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy biển số xe 51X2-4267 tên chủ xe Đặng Minh Nguyên cho Cơ quan Điều tra – Công an thành phố S tiếp tục quản lý để xác minh làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.

4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sóc Trăng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA

- VKSND tỉnh Sóc Trăng;

- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;

(Đã ký)

- VKSND thành phố S;

- Công an thành phố S;

- CQTHAHS – Công an thành phố S;

- Chi cục THA Dân sự thành phố S;

- Các bị cáo;

Lâm Tấn Vinh

- Lưu hồ sơ.

THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Châu

Huỳnh Phƣớc

Lâm Tấn Vinh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sóc Trăng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA

- VKSND tỉnh Sóc Trăng;

- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;

- VKSND thành phố S;

- Công an thành phố S;

- CQTHAHS – Công an thành phố S;

- Chi cục THA Dân sự thành phố S;

- Bị cáo;

Lâm Tấn Vinh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Người đại diện hợp pháp;

- Lưu hồ sơ.

THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Ngọc Cận

Phan Văn Tạo

Lâm Tấn Vinh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sóc Trăng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA

- VKSND tỉnh Sóc Trăng;

- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;

- VKSND thành phố S;

- Công an thành phố S;

- CQTHAHS – Công an thành phố S;

- Chi cục THA Dân sự thành phố S;

- Bị cáo;

Lâm Tấn Vinh

- Người bào chữa;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Người đại diện hợp pháp;

- Lưu hồ sơ.

THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Phƣớc

Đỗ Ngọc Cận

Lâm Tấn Vinh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sóc Trăng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA

- VKSND tỉnh Sóc Trăng;

- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;

- VKSND thành phố S;

- Công an thành phố S;

- CQTHAHS – Công an thành phố S;

- Chi cục THA Dân sự thành phố S;

- Các bị cáo;

Lâm Tấn Vinh

- Lưu hồ sơ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Phƣớc

Hà Văn Châu

Lâm Tấn Vinh

Cỡ chữ