vanban.org

Bản án 105/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 04/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Xử phạt bị cáo Phan Văn H 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn t tính từ ngày b t đi thi hành án. ình phạt bổ sung: Cấm Phan Văn H hành nghề lái e với thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày chấp hành ong hình phạt t . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2020/HS-ST
Ngày 04 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Chi và bà Nguyễn Thị Chương.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2020 và Quyết định ho n phi n t a số 20/2020/ SST-QĐ ngày 24 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Phan Văn H, sinh năm 1989 tại à Tĩnh; nơi ĐKNKTT: Khu phố TQ, phường TQ, thành phố HT, tỉnh à Tĩnh; nơi đăng ký tạm tr : Thôn ĐN, xã TH, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Phan Văn Đ, sinh năm 1965 và bà Lưu Thị M, sinh năm 1962; vợ: Nguyễn Thị , sinh năm 1989 (đ ly hôn); con: có một con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: không; bị cáo được tại ngoại tại địa phương theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư tr ; có mặt.

- Bị hại:

+ Ủy ban nhân dân thành phố PL, tỉnh à Nam; đại diện theo pháp luật: Ông Trương Quốc - Chủ tịch UBND thành phố Phủ Lý; đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Mạnh H - Trưởng phòng quản lý đô thị thành phố Phủ Lý. Có đơn đề nghị t ử v ng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Kim N (đ chết).

Đại diện theo pháp luật của ch N:

1/ Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1936.

2/ Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1949.

Đều có địa chỉ: Tổ 9, phường LKT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

3/ Anh Đinh Gia P, sinh năm 1979.

4/ Cháu Đinh Thị Phương L, sinh năm 2004.

5/ Cháu Đinh Gia , sinh năm 2011.

6/ Cháu Đinh Gia 1, sinh năm 2014.

7/ Cháu Đinh ữu U, sinh năm 2015.

Đều có địa chỉ: Tổ dân phố ĐT, phường LH, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

Đại diện theo pháp luật của cháu L, cháu , cháu 1, cháu U là anh Đinh Gia P, sinh năm 1979 (bố đ các cháu).

Đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị Kim N: Ông Đinh Ngọc T, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ dân phố ĐT, phường LH, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu đô thị mới, phường ĐV, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; v ng mặt.

2/ Anh Nguyễn Quốc , sinh năm 1978; địa chỉ: Số nhà 5, ng 1, đường QL, phường MK, thành phố PL, tỉnh à Nam; v ng mặt.

- Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Văn ; v ng mặt.

2/ Anh Lại Hồng C; v ng mặt.

3/ Ông Ngô Văn N; v ng mặt.

4/ Anh Đặng Văn K; v ng mặt.

5/ Chị Lương Thị D; v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Phan Văn H (có Giấy phép lái xe ô tô hạng B2) lái xe thuê cho nhà cung cấp thực phẩm Sinh Dung do anh Lê Tuấn A làm chủ.

Khoảng 06 giờ, ngày 16/7/2019, Phan Văn H điều khiển xe ô tô tải BKS: 90C-037.59 đến khu công nghiệp huyện Bình Lục, tỉnh à Nam để giao thực phẩm. Sau khi giao hàng xong H điều khiển xe ô tô về thị xã Duy Tiên theo hướng cầu Liêm Chính đi Ti n iệp. Khi đến ng tư Điện Biên Phủ - Lương Văn Can và oàng Thế Thiện (thuộc địa phận tổ dân phố Đường Ấm, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý), H thấy đèn tín hiệu giao thông tại ng tư đang màu anh, phía trước không có chướng ngại vật thì điều khiển e đi thẳng vào ng tư. Khi phần đầu e ô tô đi vào gần giữa ng tư thì thấy xe mô tô BKS: 90B2-116.40 do chị Nguyễn Thị Kim N điều khiển đi theo hướng đường L Công Thanh đến U ND phường Lam Hạ (phía b n trái theo hướng của H đi) đến gần đầu xe ô tô của H. H đánh lái sang b n phải để tránh nhưng phần đầu e ô tô b n trái đ đâm va vào ngang phía bên phải xe mô tô do chị N điều khiển làm e mô tô đổ xuống đường, xe ô tô tiếp tục lao về phía trước đẩy xe mô tô cùng chị N về phía xã Tiên Hiệp rồi xe ô tô đâm vào cột đèn cao áp tr n vỉa hè đường Điện Biên Phủ và bị lật nghi ng tr n đường. Hậu quả: chị N bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam, đến 11 giờ cùng ngày thì tử vong, xe ô tô, xe mô tô và cột đèn cao áp bị hư hỏng.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi ảy ra tai nạn giao thông tại ng tư giao nhau giữa đường Điện Biên Phủ với đường Hoàng Thế Thiện và phố Lương Văn Can thuộc địa phận tổ dân phố Đường Ấm, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý được trải nhựa áp phan phẳng, khô ráo, không có chướng ngại vật, tại các đầu ng tư có các vạch k đường dành cho người đi bộ qua đường, có hệ thống đèn tín hiện giao thông còn hoạt động. Đoạn đường Điện Biên Phủ là đoạn đường thẳng được chia làm H chiều đường riêng biệt là chiều đường theo hướng cầu Li m Chính đi à Nội và chiều đường ngược lại bằng dải phân cách cố định rộng 29m95, ở trong khu vực ng tư có đoạn mở dải phân cách rộng 44m70, tại H đầu dải phân cách có c m biển báo hiệu P.102 “Cấm đi ngược chiều” và biển báo hiệu số R.302a “Hướng đi vòng chướng ngại vật”. Chiều đường theo hướng cầu Li m Chính đi à Nội được chia làm hai làn đường bằng vạch đứt nét màu tr ng rộng 0m15, làn đường thứ nhất giáp m p đường bên phải rộng 2m75, làn đường thứ hai giáp dải phân cách rộng 3m25; trên chiều đường này trước khu vực ng tư có vạch dừng rộng 0m40 và bên phải chiều đường có c m biển báo hiệu I.1446 “Nơi đỗ xe dành cho người tàn tật” và biển báo hiệu số I.423b “V trí người đi bộ sang ngang”, trên vỉa hè có c m hệ thống các cột đèn cao áp.

Đường phố Lương Văn Can tiếp giáp với chiều đường hướng cầu Liêm Chính đi à Nội, phần tiếp giáp rộng 43m60. Đường phố Hoàng Thế Thiện tiếp giáp với chiều đường hướng Hà Nội - cầu Liêm Chính, khoảng cách giao giữa đường phố Lương Văn Can với đường phố Hoàng Thế Thiện và đường Điện Biên Phủ rộng 69m42. Đường phố Hoàng Thế Thiện được chia làm hai chiều đường theo hướng L Công Thanh đi U ND phường Lam Hạ và chiều ngược lại bằng vạch đôi màu vàng n t liền rộng 0m45. Chiều đường theo hướng Lê Công Thanh đi U ND phường Lam Hạ được chia làm hai làn đường bằng vạch đứt nét màu tr ng rộng 0m15, làn đường thứ nhất rộng 3m56, làn đường thứ hai rộng 3m64, trên chiều đường này có vạch dừng rộng 0m40.

Lấy m p đường bên phải, phố Lương Văn Can theo hướng U ND phường Lam Hạ - Lê Công Thanh làm mốc và lấy m p đường bên phải đường Điện Biên Phủ theo hướng cầu Li m Chính đi à Nội làm chuẩn:

- Xe ô tô BKS: 90C-037.59 ký hiệu (1) đổ nằm bên trái trên chiều đường theo hướng cầu Liêm Chính - Hà Nội của đường Điện Biên Phủ, đầu hướng về phía Hà Nội chếch vào m p đường bên phải. Tâm trục bánh sau bên trái cách mốc là 14m52 về phía Hà Nội, cách điểm giao c t gần nhất là 1m35 và trùng với đầu dải phân cách phía Hà Nội. Tâm trục bánh sau b n trái cách đường chuẩn là 2m14, tâm trục bánh trước b n trái cách đường chuẩn là 0m26.

- Vết sạt in hình hoa lốp kích thước (5,22 x 0,28) m kí hiệu (2) trên mặt tả luy và mặt vỉa hè, (2) có hướng cầu Liêm Chính - Hà Nội, đầu cách tâm trục bánh sau bên trái (1) là 4m98 về phía Hà Nội, điểm gần nhất đầu (2) cách đường chuẩn là 1m43. Cuối vết (2) cách tâm trục bánh trước bên trái (1) là 1m82 về phía cầu Li m Chính, điểm gần nhất cuối (2) cách đường chuẩn là 1m43.

- Xe mô tô BKS: 90B2-116.40 kí hiệu (3) đổ nằm ngang bên trái trên làn đường thứ nhất của chiều đường hướng cầu Liêm Chính - Hà Nội, đầu (3) hướng về phía m p đường bên phải của chiều đường này, tâm trục bánh sau (2) cách tâm trục bánh sau bên trái (1) là 15m74 về phía Hà Nội và cách đường chuẩn là 2m14, tâm trục bánh trước cách đường chuẩn là 1m27; đầu ngoài tay n m bên trái tỳ sát mặt đường cách đường chuẩn là 1m84.

- Vết cày kích thước (39,35 x 0,48)m ký hiệu (4) liền mạch có hướng cầu Liêm Chính - Hà Nội, đầu vết trong khu vực ng tư cách tâm trục bánh sau bên trái (1) là 23m42 về phía cầu Li m Chính, điểm gần nhất đầu vết (4) cách đường chuẩn là 4m29. Cuối vết (4) trùng với đầu ngoài tay n m bên trái (3) tỳ sát mặt đường.

- Diện gạch, đất, cát kích thước (2,38 x 1,34 )m ký hiệu (5) trên vỉa hè bên phải chiều đường hướng cầu Liêm Chính - Hà Nội. Trong diện này có cột đèn cao áp bị gập hướng về phía Hà Nội.

Diện máu kích thước (1,00 x 1,10)m, ký hiệu (7) trên mặt vỉa hè tả luy và mặt đường, tâm (7) cách tâm trục bánh trước bên trái (1) là 1m70 về phía Hà Nội và trùng với đường chuẩn.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

- Xe ô tô BKS: 90C-037.59: Toàn bộ phần bên trái xe có nhiều vết mài sạt, gương chiếu hậu bên trái, mặt gương bị vỡ rời khỏi vị trí b t. Kính ch n gió phía trước bị rạn vỡ toàn bộ. Cụm đèn pha phía trước b n trái rơi khỏi xe. Mặt ngoài ba đờ sốc phía trước b n trái để lại nhiều vết trượt sạt bong tróc sơn ma tít, bề mặt bám dính chất màu đỏ, đen kích thước toàn bộ trên diện (48 x 43)cm vết có hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất là cạnh phía dưới ba đờ sốc cách mặt đất là 34cm.

Mặt ngoài phía dưới của cánh cửa xe bên trái vị trí tiếp giáp với ba đờ sốc, bám dính chất màu nâu đỏ kích thước (11 3)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 50cm. Mặt ngoài của ba đờ sốc trước, mặt nạ và ốp kim loại liền hình chữ V có đáy rộng 8,5cm; diện bẹp l n kích thước (105 x 22)cm trong diện này có nhiều vết trượt sạt bong tróc sơn và bám dính chất màu đen, anh, điểm thấp nhất cách mặt đất là 37cm. Tâm vết cách vuông góc sườn xe bên phải là 49cm.

Mặt nạ xe có vết l m bong tróc sơn tr n diện (6 x 4)cm, tâm vết cách vuông góc thành xe bên trái là 69 cm, cách vuông góc mặt đất là 100cm. Vết có hướng từ dưới lên, từ trái sang phải. a đờ sốc b n trái phía trước cong, v nh, đầu bị bật khỏi vị trí b t, giữ tạo khe hở rộng nhất với cánh cửa trước là 5,5 cm.

- Xe mô tô BKS: 90B2-116.40:

Đèn i nhan trước hai bên và ốp nhựa đèn pha vỡ rơi khỏi xe.

Ốp nhựa vai càng hai b n phía trước rơi khỏi xe. Ốp nhựa lốc máy bên phải phần phía trên vỡ tách, kích thước (11 x 9) cm, mặt ngoài để lại nhiều vết trượt sạt hướng từ phải qua trái, chếch từ dưới l n, điểm thấp nhất của vết vỡ cách mặt đất là 27 cm.

Mặt ngoài phần phía dưới của cần đạp chân phanh bị mòn vẹt kim loại, bề mặt bám dính bột đá màu tr ng kích thước (10,3 1,2) cm, điểm gần nhất của vết cách bàn đạp chân phanh là 12,2 cm.

Để chân chính bên phải bọc cao su, mặt ngoài thanh kim loại b t, giữ để chân có vết mài sạt sáng kim loại kích thước (5,2 x 0,3)cm, vết có hướng từ trên xuống dưới, thanh kim loại này bị đẩy cong từ phải sang trái từ dưới lên trên làm cho phần trong của đệm cao su tỳ sát với lốc máy.

Để chân phía sau bên phải đầu ngoài bọc kim loại, mặt ngoài đầu bọc này bị mài, sạt, bám dính chất màu tr ng.

Ốp nhựa thân xe bên phải, mặt ngoài phần phía trước bám dính chất màu nâu đỏ kích thước (20 x 12)cm, mặt ngoài phần phía sau bị mài sạt nhựa bám dính màu tr ng kích thước (28,5 x 9,5)cm, vết có hướng từ dưới l n tr n, điểm thấp nhất cách mặt đất là 41cm.

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

Tại Bản kết luận pháp y về tử thi số 94/19/TT ngày 16/8/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam, kết luận: “Nạn nhân Nguyễn Th Kim N tử vong do chấn thương sọ não nặng làm vỡ xương hộp sọ, não dập nát”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 70/2019 ngày 23/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phủ Lý, kết luận: ư hỏng của xe mô tô Honda Wave BKS: 90B2-116.40, e đ qua sử dụng là 1.640.000 đồng; hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu KIA BONGO, BKS: 90C-037.59, e đ qua sử dụng là 12.500.000 đồng; hư hỏng của cột đèn cao áp là 17.823.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại tài sản là: 31.963.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 5248/C09-P6 ngày 18/10/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Không ác định được trạng thái hoạt động của đèn tín hiệu giao thông (trong file video gửi giám định) do cự ly xa, hình ảnh mờ.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 90B2-116.40; 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA BONGO, BKS: 90C-037.59; 01 giấy phép lái xe và 01 chứng minh nhân dân mang t n Phan Văn H; 01 th nhớ loại 16 GB, mặt sau có ghi các chữ TOSHIBA 30MB/S Micro 16GB TAIWAN; 01 giấy ph p lái e và 01 căn cước công dân đều mang tên Lê Tuấn A (bản phô tô công chứng); 01 giấy chứng nhận đăng ký e và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự b t buộc của xe ô tô BKS: 90C-037.59 (bản phô tô công chứng).

Từ những nội dung trên, bản cáo trạng số 95/CT-VKS-PL ngày 14/7/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đ truy tố Phan Văn H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phi n t a sơ thẩm hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 24 đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 260; Điều 41 của ộ luật ình sự: Cấm Phan Văn H hành nghề lái e từ 01 đến 02 năm kể từ ngày chấp hành ong hình phạt t .

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 của ộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của ộ luật ình sự: Trả lại bị cáo Phan Văn H 01 giấy ph p lái e mang t n Phan Văn H khi bị cáo chấp hành ong hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: ị cáo Phan Văn H đ tự nguyện bồi thường thiệt hại về tính mạng và tài sản cho gia đình nạn nhân là 180.000.000 đồng. Gia đình nạn nhân đ nhận đủ và không có y u cầu gì; đại diện Ủy ban nhân dân thành phố Phủ Lý và chủ e ô tô là anh L Tuấn A không có y u cầu về trách nhiệm dân sự, n n đề nghị ội đồng t ử không em t.

Bị cáo đ khai nhận toàn bộ hành vi đ thực hiện đ ng như bản cáo trạng đ truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đ công bố tại phiên tòa. Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì, nhất trí với kết luận giám định, kết luận định giá tài sản của cơ quan chuy n môn. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại là chị Nguyễn Thị Kim N, ông Đinh Ngọc T có ý kiến: Sau khi tai nạn ảy ra, bị cáo đ tự nguyện bồi thường cho gia đình chị N (bị hại) số tiền 180.000.000 đồng (bao gồm bồi thường thiệt hại tính mạng và tài sản). Nay ông không có y u cầu gì về bồi thường nữa, đề nghị ội đồng t ử em t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t ử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Những người tiến hành tố tụng này đ thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

2 Về sự v ng mặt của những người tham gia tố tụng tại phi n t a: ị hại là đại diện Ủy ban nhân dân thành phố Phủ Lý có đơn đề nghị t ử v ng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan đến vụ án và người làm chứng đều v ng mặt, nhưng trong hồ sơ vụ án đ có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đ ng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

[3 Đánh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y, bản kết luận định giá tài sản của cơ quan chuy n môn cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đ được cơ quan điều tra thu thập lưu trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ 45 phút, ngày 16/7/2019, Phan Văn H (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô BKS: 90C-037.59 đi tr n đường Điện Biên Phủ theo hướng cầu Liêm Chính - Hà Nội. Đến ng tư đường Điện Biên Phủ giao với đường Lương Văn Can và oàng Thế Thiện (thuộc địa phận tổ dân phố Đường Ấm, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý), H không quan sát hai bên, không giảm tốc độ khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức nên phần đầu bên trái xe ô tô do H điều khiển đ đâm va vào b n phải xe mô tô BKS: 90B2-116.40 do chị Nguyễn Thị Kim N điều khiển đi hướng đường Hoàng Thế Thiện - Lương Văn Can. ậu quả, chị Nguyễn Thị Kim N tử vong, xe mô tô onda Wave KS: 90 2-116.40 bị thiệt hại là 1.640.000 đồng; xe ô tô nhãn hiệu KIA BONGO, BKS: 90C-037.59 bị thiệt hại là 12.500.000 đồng; cột đèn cao áp bị thiệt hại là 17.823.000 đồng.

Hành vi nêu trên của Phan Văn H đ vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 91 ngày 31/5/2015 của Bộ giao thông vận tải. Do vậy, hành vi của Phan Văn H đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của ộ luật ình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo như bản cáo trạng đ n u là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[4 Đánh giá về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Phan Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đ âm phạm đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa bàn thành phố Phủ Lý, hậu quả của vụ án là nghiêm trọng, tuy nhi n bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bởi l i vô ý, nên cần xử lý bị cáo với mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đ gây ra.

[5 Để quyết định hình phạt ph hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cần em t đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt cho ph hợp.

Về nhân thân: ị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.

Về tình tiết tăng nặng: ị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phi n t a bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi ảy ra tai nạn bị cáo đ tự nguyện bồi thường thiệt hại kh c phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại đề nghị em t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của ộ luật ình sự.

[6 Đánh giá về hình phạt:

- ình phạt chính: Xem t về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. ội đồng t ử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và ph ng ngừa chung trong cộng đồng.

- ình phạt bổ sung: ị cáo phạm tội gây hậu quả nghi m trọng, n n cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái e trong một thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý là có căn cứ theo quy định tại Điều 41; khoản 5 Điều 260 của ộ luật ình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo Phan Văn H đ tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị Kim N số tiền 180.000.000đ (bao gồm thiệt hại về tính mạng và thiệt hại về tài sản). Gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự, n n ội đồng t ử không đặt ra em t.

- Đối với phần hư hỏng của xe ô tô BKS 90C-037.59 do anh Lê Tuấn A là chủ sở hữu, anh Lê Tuấn A tự kh c phục, sửa chữa, không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường. X t thấy đây là sự tự nguyện của anh L Tuấn A phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với phần hư hỏng của cột đèn cao áp, Ủy ban nhân dân thành phố Phủ Lý đ tự kh c phục, sửa chữa để đưa vào sử dụng và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 90B2-116.40 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Kim N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đ trả lại cho người đại diện theo ủy quyền là ông Đinh Ngọc T là phù hợp pháp luật.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA BONGO, BKS: 90C-037.59 là tài sản hợp pháp của anh Lê Tuấn A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đ trả lại cho anh Lê Tuấn A là phù hợp pháp luật.

Đối với 01 th nhớ loại 16 GB, mặt sau có ghi các chữ TOSHIBA 30MB/S Micro 16GB TAIWAN là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Quốc H Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đ trả lại cho anh Nguyễn Quốc H là phù hợp pháp luật.

Đối với 01 chứng minh nhân dân mang t n Phan Văn H là giấy tờ tùy thân của bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đ trả lại cho bị cáo là phù hợp pháp luật.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng 2 mang t n Phan Văn H cần trả lại cho bị cáo H.

Đối với 01 giấy ph p lái e và 01 căn cước công dân đều mang tên Lê Tuấn A, 01 giấy chứng nhận đăng ký e và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự b t buộc của e ô tô KS: 90C-037.59, tất cả các giấy tờ này đều là bản phô tô có công chứng được đưa vào hồ sơ vụ án làm căn cứ giải quyết vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47; Điều 41 của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Xử phạt bị cáo Phan Văn H 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn t tính từ ngày b t đi thi hành án.

ình phạt bổ sung: Cấm Phan Văn H hành nghề lái e với thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày chấp hành ong hình phạt t .

[3] Về xử lý vật chứng:

Trả lại bị cáo Phan Văn H 01 (một) giấy phép lái xe số xxxxxxxxxxxx mang tên Phan Văn H khi chấp hành ong hình phạt bổ sung.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 17/7/2020).

[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại là chị Nguyễn Thị Kim N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của bị hại là Ủy ban nhân dân thành phố Phủ Lý, người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan đến vụ án v ng mặt tại phi n t a được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được ni m yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ