vanban.org

Bản án 105/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 P bì niêm P đựng lượng ma túy còn lại sau giám định có số số 132/2020 PC09.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đinh Phúc P phải nộp 200.000đ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 P bì niêm P đựng lượng ma túy còn lại sau giám định có số số 132/2020 PC09.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2020/HS-ST
Ngày 30-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Ông Vũ Khắc Tân

Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Đinh Phúc P, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1991 tại H. Nơi cư trú: Số 58/143 T, phường A, quận L, thành phố H; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Phú L và bà Trần Thị N; tiền án, tiền sự, nhân thân: Án số 10 ngày 24/01/2014 Tòa án nhân dân quận Kiến An xử 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2013 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 18/3/2020; tạm giam ngày 21/3/2020; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 18/3/2020, tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát hiện Đinh Phúc P có biểu hiện cất giữ trái phép chất ma túy tại khu vực trước cửa nhà số 25/428 Nguyễn Văn Linh, quận Lê Chân, Hải Phòng. Khi tiến hành kiểm tra, P thả từ tay xuống đất 01 gói giấy bạc và 01 túi nilon đều chứa tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã đưa P cùng vật chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của P 01 điện thoại Itel, 01 điện thoại GiGi, 01 xe mô tô biển kiểm soát 99H1-258.88.

Tại Kết luận giám định số 132/KLGĐ ngày 20/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 01 gói giấy bạc và tinh thể trong 01 túi nilon thu giữ của Đinh Phúc P có khối lượng 5,61 gam là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Phúc P khai: Khoảng 11 giờ ngày 18/3/2020, P gọi điện rủ Q (hiện chưa xác định được căn cước, lai lịch) đến Motel 89 ở khu vực 7 tầng Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, Hải Phòng để cùng sử dụng ma túy đá. Sau khi Q đồng ý, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 99H1-258.88 tới khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, gặp và mua của T (hiện chưa xác định được căn cước, lai lịch) 1.200.000 đồng ma túy đá. P đưa cho T 400.000 đồng và bảo nợ 800.000 đồng. T nhận tiền rồi đi đâu P không biết. Khoảng 10 phút sau, T quay lại đưa cho P 01 gói giấy báo bên trong có 01 gói giấy bạc và 01 túi nilon màu trắng đều đựng ma túy đá. P để số ma túy mua được ở hộc phía trước xe máy P đang đi rồi điều khiển xe máy đến trước cửa nhà số 25/428 Nguyễn Văn Linh đứng chờ Q và cầm số ma túy trên ở tay phải thì bị lực lượng công an kiểm tra, sợ bị phát hiện nên P thả từ tay phải xuống đất số ma túy trên nhưng đã bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên. Ngoài ra, cách ngày bị bắt khoảng 2 tuần, P có mua của T 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 111/CT-VKS ngày 01/7/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Đinh Phúc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Phúc P từ 6 đến 7 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định số 132/2020 PC09; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu GiGi và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel.

Đối với hành vi mua ma túy để sử dụng cho bản thân của P cách ngày 18/3/2020 khoảng 2 tuần, P đã sử dụng hết và không biết cân nặng của số ma túy này là bao nhiêu. Ngoài lời khai của P không có tài liệu nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra.

Đối với các đối tượng T, Q, quá trình điều tra không xác định được căn cước lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 99H1- 258.88 quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô trên nên Cơ quan điều tra tiếp tục lưu giữ xe máy trên để điều tra xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh, hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, nội dung bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Thể hiện: Vào hồi 12 giờ 15 phút ngày 18/3/2020, tại khu vực trước cửa nhà số 25/428 Nguyễn Văn Linh, quận Lê Chân, Hải Phòng, Đinh Phúc P đã có hành vi cất giữ trái phép 5,61 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân và bị bắt quả tang nên đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.

Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 10 ngày 24/01/2014 Tòa án nhân dân quận Kiến An xử 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2013. Tiền án trên đã được xóa nhưng cho thấy bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật kém, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo có ông nội là Đinh Phúc Miên là người có công với cách mạng, được tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì và Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng, án phí:

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu GiGi và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Phúc P 6 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18 tháng 3 năm 2020.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 P bì niêm P đựng lượng ma túy còn lại sau giám định có số số 132/2020 PC09. Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu GiGi có số Imei 1:356180601068208 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel có số Imei 1:359623092547765 để đảm bảo thi hành án phần án phí (Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 01/7/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đinh Phúc P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ