vanban.org

Bản án 105/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 22/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị G phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguy n Thị G 04 ( bốn) năm 07 ( bẩy) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y bắt tạm giữ (22/3/2020). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị G mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị G phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 105/2020/HS-ST
Ngày: 22/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguy n Thanh Ng c

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Hịa

2. Ông Lò Thanh Hồng

- Thư ký phiên tòa: B Phạm Thị Ch m - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ho n - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nh n d n huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2020/ QĐXXST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguy n Thị G, tên g i khác: không; sinh năm: 1992 tại Điện Biên;

Nơi đăng ký nh n khẩu thường trú v chỗ ở: Bản T, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;

Nghề nghiệp: L m nương; Trình độ văn hoá: 7/12; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguy n Văn H v bà Phạm Thị D, c chồng l Nguy n Văn Th, bị cáo c 02 con. Tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Trước khi bị bắt chưa bị xử lý về h nh vi vi phạm pháp luật gì. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ng y 22/3/2020, sau đ bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 h 50' ng y 22/3/2020, khi Nguy n Thị G đang đứng ở vườn trước cửa nh mình thuộc bản T, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên phối hợp với công an xã Núa Ngam kiểm tra, qua kiểm tra đã phát hiện tại túi quần bên phải G đang mặc 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đ, G khai l tiền vừa bán ma túy cho người tên l Khánh c được. G tự nguyện lấy từ vách tường bếp giao nộp cho tổ công tác 30 viên Methamphetanmine c tổng khối lượng l 2,62 gam. G khai nhận số ma túy n y l do khoảng 19 h ng y 21/3/2020 G đi bộ từ nh đến khu vực bờ Suối bản Pá Bông, xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên mua được 35 viên Methamphetanmine với giá 1.000.000 đ của một người đ n ông không rõ tên, địa chỉ. Sau khi mua về G giấu số ma túy v o vách tường bếp nh mình. Sáng ngày 22/3/2020, G đã dùng 3 viên trong số n y trả công cho một người G thuê phát nương v đã bán cho một người tên l Khánh 02 viên, số còn lại thì bị phát hiện thu giữ. Ngoài ra, G còn khai nhận ng y 10/3/2020 G đã mua 20 viên Hồng phiến của người d n ông d n tộc Mông và dùng trả công hết cho một người dân tộc Mông mà G đã thuê để đ o sắn.

Trong quá điều tra v tại phiên tòa, bị cáo c thái độ ăn năn hối cải, th nh khẩn khai báo. Bị cáo nhất tr v không c ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra của cơ quan điều tra; quyết định truy tố của Viện kiểm sát nh n d n huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Bản cáo trạng số: 96/CT-VKSĐB ngày 05/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Nguy n Thị G về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố v đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguy n Thị G với mức hình phạt từ 03 (ba) năm 09 (ch n) tháng đến 04 ( bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự v điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2,62 gam Methamphetamine đã tr ch mẫu giám định 0,16 gam còn lại 2,46 gam, đã thu giữ của Nguy n Thị G; Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 100.000 đ; Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph , lệ ph Tòa án buộc bị cáo phải nộp tiền án ph hình sự sơ thẩm.

Lời n i sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 08 h 50' ng y 22/3/2020, tại nh riêng của mình Nguy n Thị G đã bị bắt quả tang khi đang t ng trữ 2,62 gam Methamphetamine với mục đ ch để bán lẻ kiếm lời v trả công cho người l m thuê. H nh vi của bị cáo đã trực tiếp x m phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nh nước đối với các chất ma túy. Bị cáo l người c đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã thực hiện h nh vi với lỗi cố ý trực tiếp.

H nh vi trên của bị cáo đã được chứng minh tại các biên bản: bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đồ vật t i liệu, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án, tại kết luận giám định, các lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án v lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

Như vậy Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị cáo c tội, bị cáo đã phạm v o tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n huyện Điện Biên đã truy tố.

Xét t nh chất, mức độ nghiêm tr ng của h nh vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi trên của bị cáo l h nh vi nguy hiểm cho xã hội c t nh chất nghiêm tr ng, bởi n đã trực tiếp x m phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nh nước đối với các chất ma túy, l m ảnh hưởng đến trật tự, trị an v an to n xã hội trên địa bàn. H nh vi phạm tội của bị cáo l đơn lẻ, xuất phát từ động cơ vụ lợi, coi thường pháp luật; mục đ ch của bị cáo khi thực hiện h nh vi l nh m hưởng lợi, kiếm lời.

Trong quá trình điều tra v tại phiên to bị cáo đã th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình, đ y l tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã tự nguyện khai báo ra h nh vi của mình v tự nguyện lấy ma túy giao nộp cho cơ quan điều tra, nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ l đầu thú theo khoản 2 điều 51 bộ luật Hình sự. Bị cáo không c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ v o t nh chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của h nh vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nh n th n của bị cáo; nh m thể hiện t nh nghiêm minh, nghiêm khắc v răn đe của pháp luật với tội phạm v những h nh vi vi phạm pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù c thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở th nh công d n tốt, c ý thức chấp h nh pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đề xuất áp dụng đối với bị cáo l c phần nhẹ so với t nh chất mức độ h nh vi của bị cáo, Hội đồng xét xử c n nhắc mức hình phạt phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo c thể bị áp dụng hình phạt bổ sung l hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc to n bộ t i sản. Tuy nhiên, theo các t i liệu, chứng cứ v lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo l đối tượng c thu nhập từ nghề l m ruộng thấp, ho n cảnh kinh tế gia đình kh khăn v không c t i sản gì c giá trị lớn. Do đ , Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Điện Biên phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự v điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên cần chấp nhận: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Nguy n Thị G gồm 2,62 gam Methamphetamine đã tr ch mẫu giám định 0,16 gam còn lại 2,46 gam l vật cấm t ng trữ, lưu h nh; Trả lại 100.000 đ thu giữ của G vì chưa đủ cơ sở xác định đ y l tiền G đã bán ma túy m c .

Về án ph : Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; v điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kh a 14 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph , lệ ph Tòa án, buộc bị cáo phải nộp án ph hình sự sơ thẩm.

Về các vấn đề khác có liên quan: Đối với người đ n ông đã bán ma túy cho G, những người được G trả công b ng ma túy v người c tên l Khánh mua ma túy của G, do G không rõ lai lịch, cơ quan điều tra không c đủ cơ sở đề điều tra làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người n y.

G khai ngày 10/3/2020 G đã mua 20 viên Hồng phiến của một người đ n ông d n tộc Mông v dùng trả công hết cho một người d n tộc Mông mà G thuê đ o sắn, Sáng ngày 22/3/2020, G đã dùng 3 viên Methamphetamine trả công cho một người G thuê phát nương v đã bán cho một người tên l Khánh 02 viên, số còn lại thì bị phát hiện thu giữ. Nhưng cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định những lần G mua v trả công b ng ma túy n y của G nên không đề cập xử lý.

Các h nh vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nh n d n huyện Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, các h nh vi, quyết định tố tụng của những người n y đều đảm bảo t nh hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kh a 14 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph , lệ ph Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị G phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguy n Thị G 04 ( bốn) năm 07 ( bẩy) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ng y bắt tạm giữ (22/3/2020).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Nguy n Thị G gồm 2,62 gam Methamphetamine đã tr ch mẫu giám định 0,16 gam còn lại 2,46 gam; Trả lại cho bị cáo 100.000 ( một trăm nghìn) đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/5/2020 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.)

4. Về án phí: Bị cáo Nguy n Thị G phải nộp 200.000đ án ph hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguy n Thị G c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án (22/06/2020).

Cỡ chữ