vanban.org

Bản án 105/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 05/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử phạt Mai Tuyên H 42 ( bốn mươi hai) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. 2/ Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Quyết định tạm giam bị cáo Mai Tuyên H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Tuyên H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử phạt Mai Tuyên H 42 ( bốn mươi hai) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số:105/2019/HSST
Ngày:05/4/2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quý Sửu

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đức Thọ

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Thư

ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên

toà: bà Nguyễn Thị Hương Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 82/2019/HSST ngày 01/02/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2019/QĐXXST-HS ngày đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Tuyên H; tên gọi khác : không; giới tính : Nam; sinh ngày 04 tháng 7 năm 1977, tại Thái Nguyên; đăng ký HKTT: Tổ 5, phường T, thành phố Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Mai Việt T và bà Nguyễn Thị P; có vợ là Hoàng Hương Gi (đã ly hôn); có 02 con; tiền án: Bản án số 91/2012/HSPT ngày 26/6/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Mai Tuyên H 03 năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”; tiền sự: Không; nhân thân:

Bản án số 25 ngày 29/8/1995 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Mai Tuyên H 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”;

Bản án số 56 ngày 19/3/1997 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt H 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”;

Bản án số 58 ngày 19/3/1999 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt H 36 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”, 24 tháng tù giam về tội gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 60 tháng tù.

Bản án số 60/2013/HSST ngày 14/3/2013 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Mai Tuyên H 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Tổng hợp bản án số 58/2012/HSST ngày 14/03/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 năm tù, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 54 tháng tù; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2018 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 26/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên thi hành lệnh khám xét nơi ở tại phòng trọ của Mai Tuyên H, thuộc tổ 5, phường T, thành phố Thái Nguyên, phát hiện tại tủ quần áo của H 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu xám; 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng; 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu hồng, H khai nhận là ma túy đá và hồng phiến của H. Ngoài ra còn thu giữ trên nóc tủ đựng quần áo 01 cân điện tử POCKET.

Tiến hành cân xác định: chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,068 gam, lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định; số chất tinh thể màu trắng xám có khối lượng 0,86 gam, lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu H2 gửi giám định; 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,194 gam, lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu H3 gửi giám định; số chất bột màu hồng có khối lượng 0,154 gam, lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu H4 gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 195/KL-PC09 ngày 03/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

Chất tinh thể màu trắng trong mẫu H1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,068 gam.

Chất tinh thể màu trắng xám trong mẫu H2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,86 gam.

Viên nén màu hồng trong mẫu H3 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,194 gam.

Chất bột màu hồng trong mẫu H4 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,154 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Mai Tuyên H khai: Nguồn gốc số ma túy cơ quan Công an thu giữ tại tủ quần áo trong phòng trọ là của H, do H mua của một người đàn ông tên Dương, không biết họ tên, địa chỉ tại khu vực đầu cầu Gia Bảy thuộc phường Đ, thành phố Thái Nguyên vào chiều ngày 25/12/2018 với giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKSTPTN ngày 31/01/2019, VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Mai Tuyên H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Mai Tuyên H khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng số 86/CT-VKSTPTN ngày 31/01/2019, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Tuyên H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Mai Tuyên H từ 3 đến 4 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bi cáo; tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu được, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; đó là:… c) Methamphetamine ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Bản cáo trạng số 86/CT-VKSTPTN ngày 31/01/2019 VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Mai Tuyên H theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là tái phạm.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân rất xấu, thể hiện liên tục từ năm 1995 đến năm 2013 đã nhiều lần bị Tòa án kết án về các tội trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, nên áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện, không có tài sản, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định niêm phong trong bì ký hiệu H2, H3, 01 chiếc cân điện tử.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 (tái phạm), Điều 38 Bộ luật hình sự;

1/ Xử phạt Mai Tuyên H 42 ( bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 26/12/2018 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

2/ Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Quyết định tạm giam bị cáo Mai Tuyên H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 02 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu H2, H3 (bên trong chứa chất ma túy); 01 cân điện tử nhãn hiệu Pocket scale.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 148 ngày 30/01/2019 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

4/Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 về án phí, lệ phí: buộc bị cáo Mai Tuyên H phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ