vanban.org

Bản án 105/2019/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 13/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2019/HS-ST
Ngày 13/11/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƢNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thanh Bình và Ông Phạm Văn Hiệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thủy Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

Đỗ Văn H, sinh năm 1991

Nơi cư trú: thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên;

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con ông Đỗ Văn M, sinh năm 1962 và bà Lê Thị H, sinh năm 1963;

Vợ: Vũ Mai A, sinh năm 1999; Con: có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị tạm giữ từ ngày 26/6/2019, chuyển tạm giam ngày 29/6/2019. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hưng Yên. Theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời chứng kiến: Ông Lê Quang T, sinh năm 1977, địa chỉ: thôn D, phường E, thành phố G, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/6/2019, tại đường thôn H, xã L, huyện C, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang Đỗ Văn H sinh năm 1991 có hộ khẩu thường trú: thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Thu giữ tại túi quần trước bên phải Hiếu đang mặc 01 túi nilon màu xanh kích thước (12 x 07) cm bên trong có 02 túi nilon màu trắng cùng kích thước (04 x 07) cm bên trong đều chứa chất kết tinh màu trắng được niêm phong ghi số I; Thu giữ tại túi quần trước bên trái H đang mặc 01 điện thoại Iphone màu ghi đen, có số Imei 354450060306064 không gắn thẻ sim và 01 điện thoại Nokia màu đen có số Imei 355816093316586, trên máy gắn 01 sim viettel có ba số hàng cuối trên sim là 745. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đeo biển kiểm soát 89E1- 62666. Hiếu khai nhận 02 gói nilon chứa chất kết tinh màu trắng bị thu giữ là ma túy đá của H mua về để sử dụng.

Kết quả giám định về ma túy, tại bản kết luận giám định số 456/PC09 ngày 29/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: chất dạng kết tinh màu trắng trong niêm phong ghi số I gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 23,460gam.

Quá trình điều H khai nhận: Do không có việc làm ổn định, ăn chơi đua đòi nên bản thân nghiện chất ma túy từ năm 2018 đến nay, H thường nhờ các bạn nghiện không rõ tên tuổi địa chỉ mua hộ ma túy để sử dụng. Gần đây nghe các bạn nghiện nói ở khu vực đê thuộc địa phận xã L, huyện C có người đàn ông khoảng 30 tuổi người cao gầy, da ngăm đen bán ma túy nên H tìm đến mua. H đã mua của người đàn ông trên nhiều lần nhưng không nhớ cụ thể, chỉ nhớ lần gần nhất là ngày 26/6/2019 H mua của người đàn ông trên 4.000.000 đồng được 02 gói ma túy, trên đường H đi về thì bị bắt quả tang.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho H ở khu vực đê thuộc địa phận xã L, huyện C, do H không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể xác minh, xử lý được đối tượng này.

Quá trình điều tra cơ quan công an đã tạm giữ của Đỗ Văn H:

- 01 điện thoại Iphone màu ghi đen, có Imei 354450060306064, model A1549 không gắn thẻ sim và 01 điện thoại Nokia màu đen có model TA-1010, số Imei 355816093316586, trên máy gắn 01 sim viettel có ba số hàng cuối trên sim là 745 là của Đỗ Văn H sử dụng để liên lạc cá nhân.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đeo biển kiểm soát 89E1-62666, quá trình điều tra đã làm rõ là xe của chị Vũ Mai A (vợ H). chị A không biết việc H sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời có đơn xin lại chiếc xe mô tô trên; Ngày 29/8/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Vũ Mai A.

Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKS-P1 ngày 21/10/2019 của VKSND tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đỗ Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được đoàn tụ cùng gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Đỗ Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Về biện pháp tư pháp áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả lại mẫu vật sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone màu ghi đen, 01 điện thoại Nokia màu đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên, phù hợp khách quan với lời khai của người chứng kiến, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/6/2019, tại khu vực thôn H, xã L, huyện C, tỉnh Hưng Yên, Đỗ Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép 23,460 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo tàng trữ trái phép 23,460 gam ma túy, loại Methamphetamine, nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận nhân dân tại địa phương; là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2018, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy hết sức nặng nề của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với trí lực, thể lực của con người cũng như kinh tế của chính gia đình, bản thân người nghiện và xã hội. Nhưng do có lối sống buông thả, đua đòi bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, dành cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ là ông Đỗ Văn M được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có tài sản gì lớn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy là Methamphetamine hoàn lại sau giám định là hàng cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen; 01 sim viettel; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi đen không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, trên phong bì có ghi Công an tỉnh Hưng Yên số 456/PC09, số TCGĐ: 154/PC04 ghi hoàn mẫu vật gửi giám định có 02 chữ ký và 03 con dấu giáp lai của Phòng PC09 - Công an tỉnh Hưng Yên;

Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 sim viettel.

(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKS-P1 ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên).

3. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ