- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn L - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TAND HUYỆN V H TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2019/HS-ST Ngày 22 tháng 11 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùi Văn Huấn và ông Đỗ Đức Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn S - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVH tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo:
Lò Văn L. Sinh năm 1996, tại Q Nh, Sơn La.
Nơi cư trú: Bản Ph D, xã M S, huyện Q Nh, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lái xe ô tô; Trình độ văn hoá: 12/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Ú (đã chết) và bà Lò Thị Ph; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, Tiền sự: không;
Bị cáo được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện hợp pháp của bị hại Bàn Văn Kh: chị Bàn Thị K. Sinh năm 1998, địa chỉ: Bản S Kh, xã Ph L, huyện M Ch, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Người bị hại:
+ Anh Bàn Văn S. Sinh năm 1997, địa chỉ: Bản B Nh 2, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
+ Anh Lý Văn H. Sinh năm 2001, địa chỉ: Tiểu Khu S Đ 2, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Vận tải và du lịch K Th, địa chỉ: Số 205, tổ 39, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Do ông Nguyễn Đình K, chức vụ Giám đốc là Người đại diện theo pháp luật. Ông Vũ Văn Q, chức vụ Nhân viên, là người đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bàn Văn S, sinh năm 1974; địa chỉ: Bản S Kh, xã Ph L, huyện M Ch, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Thào A S, sinh năm 2003; địa chỉ: Bản P Kh, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La. Do chị Sồng Y P, sinh năm 1980 (mẹ Thào A S) là người đại diện. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn L là lái xe hợp đồng của Công ty TNHH Vận tải và du lịch K Th. Khoảng 14 giờ 30 ngày 27/8/2019 L điều khiển xe ô tô tải BKS 29H – 271.91 đi hướng Sơn La – Hà Nội. Đến Km 171 +400, Quốc Lộ 6, thuộc địa phận Bản B Nh 2, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La, là đoạn đường thẳng, lên dốc, tầm nhìn bị che khuất. Quan sát thấy phía trước cùng chiều có chiếc ô tô BKS 34C – 135.04 do Phạm Văn N điều khiển. L bật xin nhan, nhấn ga xin vượt. Khi xe của L đến ngang thân xe của N thì nhìn thấy một xe máy BKS 26P1 – 016.82 do Thào A S, sinh năm 2003, đang đi ngược chiều. Ô tô của L đi qua xe của S thì L lại nhìn thấy xe máy BKS 26B1 – 545.91 do Bàn Văn Kh điều khiển, chở phía sau Lý Văn H và Bàn Văn S. Hơi giật mình một chút, L đánh lái sang phải để tránh, nhưng không kịp nên va chạm với xe máy của Kh. Làm xe của Kh bị văng vào lề đường bên phải. Hậu quả, Bàn Văn Kh tử vong tại chỗ, Lý Văn H bị thương nặng, Bàn Văn S bị thương nhẹ. Thào A S nghe tiếng và chạm mạnh, bị giật mình nên lao xe xuống rãnh nhỏ bên đường, bị thương nhẹ. L vượt xe lên trước sát vào lề đường bên phải và cùng người dân đưa các nạn nhân bị thương đi cấp cứu.
- Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và test thử ma túy, xác định nồng độ cồn trong hơi thở của L là 0,000mg/l và âm tính với chất ma túy.
- Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là Km171 + 400, Quốc lộ 6, thuộc địa phận Bản B Nh 2, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La. Là đoạn đường thẳng, không hạn chế tầm nhìn về cả hai chiều đường. Mặt đượng dải nhựa áp phan rộng 6,4m, tim đường có vạch kẻ đứt đoạn phân chia 02 làn đường, có hai lề đường, có rãnh nước rộng 1,3 x 0,50m. Các vị trí dấu vết đo sang bên trái đường hướng Sơn La – Hà Nội.
Tại các vị trí khám nghiệm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 có các mảnh vỡ của phương tiện, vết trượt, cày ngắt quãng do giá để chân sau xe máy BKS 26B1 – 545.91 và xe máy BKS 26P1 – 016.82. Xe máy BKS 26P1 – 016.82 nằm đổ nghiêng dưới rãnh thoát nước, đầu hướng Hà Nội, đuôi hướng Sơn La. xe máy BKS 26B1 – 545.91 nằm ở lề đường bên trái, đầu hướng Sơn La, đuôi hướng Hà Nội, có 01 tử thi Bàn Văn Kh nằm vắt trên xe. Xe ô tô BKS 34C – 153.04 đỗ ở phần đường bên phải, trục trước và trục sau bên trái cách mép đường 4,65m, cách vị trí có những mảnh vỡ tập trung là 12,8m. Xe ô tô BKS 29H – 271.91 đỗ ở phần đường bên phải, trục sau bên trái cách mép đường 4,7m, cách trục trước bên trái xe ô tô BKS 34C – 153.04 là 93,7m. Trục trước bên trái cách mép đường 4,9m.
Quá trình khám nghiệm thu giữ 01 mặt gương có khung nhựa màu đen kích thước 36x19cm, mặt sau có ký hiệu SR 1400 nằm trên lề đường đất bên trái.
- Khám nghiệm xe ô tô tải BKS 29H – 271.91 xác định được:
+ Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn, còi, gạt nước đảm bảo an toàn kỹ thuật.
+ Cụm gương chiếu hậu phía trước bên trái bị nứt vỡ, ốp bảo vệ bị bật khỏi vị trí ban đầu, phần dưới chân cầm gương bị bẹp móp, tróc sơn, xô từ trước ra sau kích thước 0,12 x 0,03m. Mặt ngoài bên trái ba đờ sốc trước có vết trượt sạch bụi chiều từ trước về sau kích thước 0,28 x 0,10m. Mặt ngoài bên dưới cánh cửa lên xuống bên trái bị trượt xước, bong sơn kích thước 0,50m x 0,20m, vị trí thấp nhất cách mặt đường 0,60m. Mặt má ngoài bên trái lốp trước có vết trượt rách cao su kích thước 0,60 x 0,15m. Mặt ngoài vòng la zăng tiếp xúc có vết trượt xước chiều từ ngoài vào trong kích thước 0,24 x 0,07m. Mặt ngoài phía trên cửa lên xuống bên trái bám một ít tổ chức dịch não kích thước 0,65 x 0,30m. Mặt trước bên trái thành thùng xe bị bẹp móp, rách kim loại, chiều từ trước ra sau, bề mặt bám dính tổ chức não kích thước 1m x 0,30m. Giá bảo vệ sườn xe bên trái bị gãy bật rời khỏi vị trí ban đầu, bề mặt bám dính tổ chức dịch não, mỡ khích thước 3,15m x 0,30m. Mặt ngoài má lốp sau bên trái có vết trượt sạch bụi kích thước 0,25m x 0,18m.
- Khám nghiệm xe máy BKS 26B1 – 545.91 xác định được: Tay cầm bên trái xô lệch từ trước ra sau, phần cao su bật rời khởi vị trí ban đầu. Ốp bảo vệ sườn xe bên trái bật rời khởi vị trí ban đầu. Chắn bùn trước xô lệch khỏi vị trí ban đầu, bề mặt bám dính vết trượt, xước kích thước 0,08 x 0,08m. Ống giảm sóc trước bên trái có vết trượt xước kích thước 0,03 x 0,01m. Ốp đèn pha, đèn tín hiệu bên phải có vết trượt xước kích thước 0,16 x 0,1m. Ốp bảo vệ sườn xe bên phải bật rời khỏi vị trí ban đầu, bề mặt có vết trượt xước kích thước 0,19 x 0,04m. Ốp bảo vệ ống xả có vết trượt xước kích thước 0,04 x 0,13m. Giá để chân trước bên trái bị xô lệch về phía sau so với vị trí ban đầu. Cần đi số bị xô đẩy áp sát vào mặt máy.
- Khám nghiệm xe máy BKS 26P1 -016.82 xác định được: Gương chiếu hậu bên trái bật rời khởi vị trí ban đầu. Giá để chân trước bên trái trượt xước kim loại bám dính chất màu nâu, rách cao su để lộ lõi sắt. Mặt ngoài ốp bảo vệ ống xả có nhiều vết xước kim loại hướng từ trước về sau kích thước 0,12 x 0,06m.
- Khám nghiệm tử thi Bàn Văn Kh xác định được: Vùng chán trái trên đường chân tóc 1,5cm có vết thương nằm ngang, bề mặt tương đối sắc gọn kích thước 4 x 12cm lộ xương. Trên cung lông mày trái có vết thương nham nhở kích thước 3,7 x 3,9cm lộ xương. Má phải có vết thương xây xước da kích thước 4,5 x 2cm. Hốc mắt trái bầm tụ máu. Cung răng nghiến chặt thè đầu lưỡi ra ngoài 0,5cm. Từ nách đến mỏm cùng vai da bị toạc để lộ cơ kích thước 8x 2,4cm. Ngực trái có vết thương làm xây xước da, bầm tím kích thước 20 x 9cm. Sườn phải có vết xước da kích thước 12 x 6,5cm. Toàn bộ mặt trước cánh tay trái bị xây xước da, gãy 1/3 xương cẳng tay trái,ổ gãy thông ra bên ngoài hai vết thương tại 1/3 giữa trong cẳng tay trái kích thước 2 x 0,5cm và 1,4 x 0,7cm. Mặt trước giữ đốt 1,2 ngón hai bàn tay trái có vết thương toác da nằm ngang để lộ gân kích thước 1,8 x 0,2cm. Mặt mu khớp ngón hai phải có vết thương rách da kích thước 1,2 x 0,9cm. Mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải có vết xây xước da kích thước 6 x 0,8cm, gãy 1/3 xương đùi trái. Mặt trước 1/3 giữa đùi trái có vết thương kích thước 2 x 1,5cm, xung quanh xây xước da tiết diện 15 x 5cm. Mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái có vết xây xước da nằm dọc kích thước 10 x 1cm. Mặt trước 1/3 dưới cẳng chân trái kéo xuống mu bàn chân có vết thương mất da để lộ cơ, gân, xương kích thước 12 x 10cm. Mở rộng vết thương vùng trán trái xương trán bị dập vỡ phức tạp, tổ chức não dập nát, lồi ra ngoài.
- Kết luận giám định pháp y số 1466/GĐPY ngày 10/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Chấn thương sọ não – vỡ xương chán, dập não” là nguyên nhân chết.
- Tại bản kết luận định giá tài sản số 58/KL – HĐĐGTS, ngày 25/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện VH xác định: “Tổng giá trị các bộ phận bị hư hỏng của xe ô tô tải BKS 29H – 271.91 cần thay thế, sửa chữa là 7.650.000 đồng; Tổng giá trị các bộ phận bị hư hỏng của xe máy BKS 26B1 – 545.91 là 2.300.000 đồng. Tổng giá trị bị thiệt hại là 9.950.000 đồng”
- Về bồi thường thiệt hại: Hai người ngồi sau xe máy của Bàn Văn Kh là Lý Văn H và Bàn Văn S bị thương, điều trị tại Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên từ ngày 27/8/2019 đến 05/9/2019. Sau khi điều trị ra viện, Lý Văn H và Bàn Văn S từ chối đi giám định tỷ lệ thương tật, do đã được bị cáo bồi thường và sức khỏe đã hồi phục (Lý Văn H được bồi thường 20.000.000 đồng, Bàn Văn S được bồi thường 7.300.000 đồng). Bị cáo Lò Văn L cũng thỏa thuận được việc bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của Bàn Văn Kh là chị Bàn Thị K (vợ Kh) tổng số tiền là 70.000.000 đồng (trong đó tiền mai táng phí là 35.000.000 đồng, tổn thất tinh thần là 35.000.000 đồng). Những người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại Bàn Văn Kh không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường, có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ đối với bị cáo.
- Kết quả xác minh của cơ quan điều tra đối với các phương tiện, xác định được như sau:
+ Chiếc xe ô tô BKS 29H – 271.91 là tài sản do Công ty TNHH Vận tải và du lịch K Th thuê lại của Công ty Cổ phần vận tải Bưu chính C Đ Xthời hạn 03 năm (từ 01/8/2019 đến 01/8/2022); địa chỉ: Thôn Tr, xã D H, huyện G L, thành phố Hà Nội. Sau đó Công ty TNHH Vận tải và du lịch K Th thuê Lò Văn L lái xe để vận chuyển hàng hóa. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên kèm theo 01 mặt gương có khung nhựa màu đen kích thước 36x19cm, mặt sau có ký hiệu SR 1400 cho Công ty Cổ phần vận tải Bưu chính C Đ Xquản lý, sử dụng. Công ty Cổ phần vận tải Bưu chính C Đ Xvà Công ty TNHH Vận tải và du lịch K Th không đề nghị bị cáo Lò Văn L phải bồi thường phần hư hỏng của xe.
+ Chiếc xe máy BKS: 26B1 – 545.91 là tài sản của ông Bàn Văn S (bố Bàn Văn Kh). Cơ quan điều tra đã trả lại cho Bàn Văn S quản lý sử dụng. Bàn Văn S không yêu cầu Lò Văn L phải bồi thường chi phí sửa chữa các bộ phận hỏng của xe.
+ Chiếc xe máy BKS: 26P1 – 016.82 là tài sản của chị Sồng Y P (mẹ Thào A S). Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Thào A S về hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi chưa đủ tuổi và không có giấy phép lái xe, đồng thời trả lại xe cho chị Sồng Y P quản lý sử dụng.
Cáo trạng số 105/CT – VKS ngày 04/11/2019 của VKSND huyện VH, truy tố Lò Văn L về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 điều 260 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Lò Văn L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
* Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1, 2 điều 65 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt: Lò Văn L từ 18 đến 24 tháng tù, nhưng xem xét cho hưởng án treo, thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo cho gia đình và chính quyền UBND xã M S, huyện Q Nh quản lý theo dõi trong thời gian thử thách.
* Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe mang tên Lò Văn L.
+ Lưu 01 chiếc USB tại hồ sơ làm chứng cứ của vụ án.
- Chấp nhận việc bị cáo và gia đình những người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận việc bồi thường, gia đình các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Chấp nhận việc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và bị đơn dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
- Bị cáo phải chịu án phí HSST 200.000 đồng.
* Chứng cứ tại cơ quan điều tra thể hiện ý kiến của đại diện người bị hại Bàn Văn Kh, những người bị hại Lý Văn H và Bàn Văn S đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lò Văn L có giấy phép lái xe, không sử dụng rượu bia và các chất kích thích, điều khiển xe ô tô tải BKS 29H – 271.91 đi hướng Sơn La – Hà Nội. Đến Km 171 + 400, Quốc Lộ 6, thuộc địa phận Bản B Nh 2, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La. Quan sát thấy phía trước cùng chiều có chiếc ô tô BKS 34C – 135.04. L điều khiển xe vượt lên. Nhưng do đoạn đường lên dốc không quan sát hết tầm nhìn, không làm chủ tốc độ, không tính toán được lưu lượng xe máy đi ngược chiều và xử lý tình huống không tốt. Nên gây ra việc đâm va vào xe máy BKS 26B1 – 545.91 do Bàn Văn Kh điều khiển, chở phía sau Lý Văn H và Bàn Văn S. Hậu quả, Bàn Văn Kh tử vong tại chỗ, Lý Văn H và Bàn Văn S bị thương.
Như vậy, hành vi điều khiển xe ô tô vi phạm quy định về Vượt xe: “Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt…” khi tham gia giao thông đường bộ của Lò Văn L đã vi phạm quy định tại điều 14 Luật giao thông đường bộ, gây thiệt hại về người và tài sản, gây hậu quả nghiêm trọng làm 01người chết và 02 người bị thương đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, căn cứ khoản 1, điều 260 BLHS. HĐXX xét thấy, việc khởi tố, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của những người bị hại và những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập, xác minh được. Phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
Tính chất hành vi và vai trò của bị cáo: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng và sức khỏe và tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là vô ý vì quá tự tin (tự tin sẽ vượt được xe đi trước, sẽ làm chủ được tốc độ, xử lý được tình huống và tin hậu quả sẽ không xảy ra), gây hậu quả nghiêm trọng. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tích cực bồi thường thiệt hại cho những người bị hại, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội do lỗi một phần của người bị hại (uống rượu, không có giấy phép lái xe). Đại diện hợp pháp của người bị hại Bàn Văn Kh, người bị hại Lý Văn H, Bàn Văn S có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. HĐXX xét thấy, không cần thiết phải xử phạt tù đối với bị cáo, mà xem xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách thích hợp, tạo điều kiện để bị cáo tiếp tục làm việc, cũng có tác dụng răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 260 BLHS, bị cáo có thể bị phạt bổ sung cấm hành nghề từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên HĐXX xét thấy, lái xe là nghề duy nhất của bị cáo, cần tạo điều kiện để bị cáo trở lại làm việc và kiếm sống. Do vậy, không cấm hành nghề đối với bị cáo là phù hợp.
Về bồi thường dân sự: Xét thấy bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận việc bồi thường cho những người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại Bàn Văn Kh (Chị Bàn Thị K). Người có QLNVLQ, ông Bàn Văn S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí sửa chữa xe máy. Những người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại Bàn Văn Kh, Người có QLNVLQ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Công ty TNHH Vận tải và du lịch K Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí sửa chữa xe. HĐXX xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, cần chấp nhận, không đặt vấn đề giải quyết.
Vật chứng của vụ án:
+ 01 xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, BKS 29H – 271.91 là tài sản do Công ty TNHH Vận tải và du lịch K Th thuê lại của Công ty Cổ phần vận tải Bưu chính C Đ X. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên kèm theo 01 mặt gương có khung nhựa màu đen kích thước 36x19cm, mặt sau có ký hiệu SR 1400 và một số giấy tờ liên quan cho Công ty Cổ phần vận tải Bưu chính C Đ X quản lý, sử dụng là có căn cứ.
+ Chiếc xe máy BKS: 26B1 – 545.91 là tài sản của ông Bàn Văn S (bố Bàn Văn Kh). Ông Bàn Văn S không biết việc Bàn Văn Kh tự ý mang xe máy tham gia giao thông. Chiếc xe máy BKS: 26P1 – 016.82 là tài sản của chị Sồng Y P (mẹ Thào A S). Thào A S chưa đủ tuổi và không có giấy phép lái xe khi tham gia giao thông. Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Thào A S về hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi chưa đủ tuổi và không có giấy phép lái xe. Cơ quan điều tra đã trả lại hai chiếc xe trên cho ông Bàn Văn S và chị Sồng Y P quản lý sử dụng là phù hợp.
+ Chiếc ô tô nhãn hiệu ISUZU, màu sơn trắng, BKS 34C – 135.04 do Phạm Văn N điều khiển. Anh N có giấy phép lái xe, đi đúng phần đường, tuân thủ tốc độ, không liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Sau khi phát hiện tai nạn, đã dừng xe, đưa người bị nạn đi cấp cứu, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Phạm Văn N là có căn cứ.
+ 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 140142010029, mang tên Lò Văn L, sinh năm 1996, nơi cư trú: xã M S, huyện Q Nh, tỉnh Sơn La, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc, cấp ngày 01/11/2017; là giấy tờ về nhân thân và phương tiện hành nghề của Lò Văn L, cần tuyên trả lại ngay cho bị cáo tại phiên tòa.
01 chiếc USB, bên trong đựng dữ liệu điện tử là đoạn video có dung lượng 380MB, thời lượng 05 phút, từ 15 giờ 05 phút đến 15 giờ 10 phút ngày 27/8/2019, ghi lại diễn biến hành trình xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, BKS 29H – 271.91 khi gây tai nạn, là vật chứng cần lưu hồ sơ vụ án, không trả lại bị cáo.
+ 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy của Lò Văn L là vật không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
1. Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1, 2 điều 65 BLHS, xử phạt: Lò Văn L 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (22/11/2019).
Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo cho gia đình và UBND xã M S, huyện Q Nh, tỉnh Sơn La quản lý theo dõi trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về bồi thường dân sự: Chấp nhận việc những người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại Bàn Văn Kh, người có QLNVLQ, bị đơn dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp.
3. Về vật chứng: Áp dụng các khoản 2 điều 47 BLHS, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng quy thử ma túy đối với Lò Văn L. Theo biên bản giao vật chứng số: 13/BBVC ngày 08/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH.
+ Trả lại ngay tại phiên tòa cho bị cáo: 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 140142010029, mang tên Lò Văn L, sinh năm 1996, nơi cư trú: xã M S, huyện Q Nh, tỉnh Sơn La, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc, cấp ngày 01/11/2017.
+ Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, BKS 29H – 271.91, kèm theo 01 mặt gương có khung nhựa màu đen kích thước 36x19cm, mặt sau có ký hiệu SR 1400 và một số giấy tờ liên quan cho Công ty Cổ phần vận tải Bưu chính C Đ X; 01 Chiếc xe máy BKS: 26B1 – 545.91 cho ông Bàn Văn S; 01 chiếc xe máy BKS: 26P1 – 016.82 cho chị Sồng Y P quản lý sử dụng.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; những người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại Bàn Văn Kh, người có QLNVLQ, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAT; - VKS tỉnh, huyện; - CA huyện, CQ THAHS; - Sở TP; - Trại Giam; - Bị cáo; bị đơn dân sự; - Người có QLNVLQ; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu HS; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Quang |