vanban.org

Bản án 105/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 15/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 khoản, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tuấn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2019/HSPT
Ngày 15 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Anh Tuấn

Các Thẩm phán:

Ông Hồ Văn Việt

Ông Tạ Văn Thành

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2019, Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 84/2019/HSPT ngày 08 tháng 10 năm 2019 do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2019/HSST ngày 30/8/2019 của TAND huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Bị cáo bị kháng nghị:

Bùi Tuấn T;

Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 26/9/2002, tại huyện K, tỉnh Phú Thọ; (tính đến ngày bị cáo T phạm tội là 16 tuổi 06 tháng 27 ngày)

Nơi cư trú: Khu 7, thị trấn K, huyện K, tỉnh Phú Thọ;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Không rõ; con bà: Vũ Thị S (đó chết);

Anh, chị, em ruột: Có 02 người (bị cáo là con thứ hai);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo khụng bị tạm giữ, tạm giam, đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại khu 7, thị trấn K, huyện K, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xét xử vắng mặt).

*Người bị hại:

1. Chị Hà Thanh H, sinh ngày 19/5/2003;

Địa chỉ: Xóm Gò Vố, xã T, huyện S, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

2. Chị Dương Thị V, sinh ngày 26/8/2003;

Địa chỉ: Ấp Bình N, thị trấn C, huyện C, tỉnh A. (vắng mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Khu 8, xã Xuân Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt).

2. Anh Trần Xuân Tuấn X, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Khu 8, xã Xuân Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt).

3. Anh Đinh Ngọc L, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Đội 3, K, xã Y, huyện S, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt).

* Những người tham gia tố tụng khác:

1. Người giám hộ cho bị cáo: Chị Trương Thị H, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện B, tỉnh L. (có đơn xét xử vắng mặt).

2. Người giám hộ cho chị Hà Thị H: Bà Hà Thị H, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Xóm Gò Vố, xã T, huyện S, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt).

3. Người giám hộ cho chị Dương Thị V: Bà Dương Thị T, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Ấp B, thị trấn C, huyện C, tỉnh A. (vắng mặt).

4. Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị Lan H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Phú Thọ. (có đơn xét xử vắng mặt).

5. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho chị Hà Thanh H: Bà Đinh Thị H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Phú Thọ. (có đơn xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 23/4/2019, tại ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ 32 với đường Hồ Chí Minh ở Km 79+500 Quốc lộ 32 (thuộc khu 9, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ) xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô biển kiểm soát 30E-722.30 do anh Đinh Ngọc L, sinh năm 1997 (ở xóm Kết Bình, xã Yên Sơn, huyện S, tỉnh Phú Thọ) điều khiển theo hướng từ ngã tư xã C đi huyện S với xe mô tô biển kiểm soát 19N1-215.21 do Bùi Tuấn T điều khiển theo hướng từ thị trấn Hđi thị xã Phú Thọ, chở phía sau chị Hà Thị Thanh H, sinh năm 2002 (ở xã T, huyện S, tỉnh Phú Thọ) và chị Dương Thị V, sinh năm 2003 (ở ấp Bình Nghĩa, thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang). Hậu quả: chị H, chị V và T đều bị thương được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện T sau đó chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ. Sau khi nhận được tin báo từ ban Công an xã C, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã phối hợp với các cơ quan chức năng đến hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông để tiến hành khám nghiệm hiện trường và điều tra theo quy định của pháp luật.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường đã bị xáo trộn do việc cấp cứu người bị nạn và các phương tiện khác tham gia giao thông, các dấu vết, phương tiện liên quan đến vụ tai nạn được đánh dấu bảo vệ. Xác định chiều khám nghiệm từ ngã tư xã C đi huyện S, tỉnh Phú Thọ. Vật làm chuẩn là chân cột đèn tín hiệu giao thông được dựng trên giải phân cách cứng góc ngã tư bên phải theo chiều khám nghiệm về phía ngã tư xã C. Mép đường bên phải của Quốc lộ 32 là mép đường chuẩn. Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là tại ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ 32 với đường Hồ Chí Minh, mặt đường phẳng, được trải nhựa áp phan, tầm nhìn không bị che khuất.

Mặt tiếp giáp giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh với đường Quốc lộ 32 về phía thị trấn Hrộng 21,2m. Mặt tiếp giáp giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh với đường Quốc lộ 32 về phía thị xã Phú Thọ rộng 21,2m. Mặt tiếp giáp giao nhau giữa đường Quộc lộ 32 với đường Hồ Chí Minh về phía ngã tư xã C rộng 14,9m. Mặt tiếp giáp giao nhau giữa đường Quốc lộ 32 với đường Hồ Chí Minh về phía huyện S rộng 14,9m. Tại bốn góc của ngã tư là 04 giải phân cách sơn màu vàng đen cao 0,35m, trên các giải phân cách này có dựng cột đèn tín hiệu giao thông đỏ, vàng, xanh. Trên mặt đường Quốc lộ 32 và đường Hồ Chí Minh về bốn phía có 04 dải phân cách cứng cao 0,35m, rộng 0,95m chia mỗi hướng đi T hai chiều đường, tại đầu mỗi dải phân cách này dựng một cột biển báo cấm đi ngược chiều.

Tại hiện trường trên mặt đường nhựa phát hiện vết trà sát mặt đường nhựa không liên tục màu trắng (ký hiệu là V1) kích thước 8,9m, rộng 0,01m, có chiều từ ngã tư xã C đi huyện S. Điểm đầu V1 cách vật chuẩn về phía ngã tư xã C là 22m, cách mép đường chuẩn 3,5m và cách chân cột đèn tín hiệu giao thông được dựng trên dải phân cách cứng góc ngã tư bên phải theo chiều thị trấn Hđi thị xã Phú Thọ về phía thị trấn Hlà 22,8m. Điểm cuối V1 nằm trên mặt đường Hồ Chí Minh chiều đường từ thị xã Phú Thọ đi thị trấn Hvề phía thị xã Phú Thọ, cách mép đường chuẩn là 2,5m và trùng với đầu chân phanh của xe mô tô biển kiểm soát 19N1-215.21. Cách điểm đầu V1 về phía ngã tư xã C 8,8m phát hiện tâm bãi chất dịch màu nâu (ký hiệu là M) có kích thước 0,5m x 0,25m, vết M nằm trên đường Hồ Chí Minh ở chiều đường thị trấn Hđi thị xã Phú Thọ về phía thị xã Phú Thọ. Tâm vết M cách mép đường chuẩn 4,8m.

Tại điểm cuối V1 phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 19N1-215.21 bị đổ nghiêng sang bên phải nằm trên mặt đường tại chiều đường thị xã Phú Thọ đi thị trấn Hcủa đường Hồ Chí Minh (về phía thị xã Phú Thọ), đầu xe mô tô quay về phía thị trấn Hưng Hóa, đuôi xe mô tô quay về phía thị xã Phú Thọ. Đầu trục trước bên phải xe mô tô cách mép đường chuẩn 2,2m, cách mép đường bên phải của đường Hồ Chí Minh (hướng thị xã Phú Thọ đi thị trấn Hưng Hóa) là 6,7m và cách điểm đầu V1 là 9,5m. Đầu trục sau bên phải xe mô tô cách mép đường chuần 3,2m, cách mép đường bên phải của đường Hồ Chí Minh (hướng thị xã Phú Thọ đi thị trấn Hưng Hóa) là 6,9m.

Trên mặt đường tại chiều đường từ ngã tư C đi huyện S của đường Quốc lộ 32 phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 30E-722.30, đầu xe ô tô quay hướng ngã tư C, đuôi xe quay về phía huyện S. Tâm đầu trục trước bên trái xe ô tô cách đầu trục trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 19N1-215.21 là 8,7m và cách mép đường chuẩn là 5m, tâm đầu trục sau bên trái xe ô tô cách mép đường chuẩn là 4,4m.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 19N1-215.21: Phần đầu xe: Ốp nhựa bảo vệ đèn chiếu sáng, hộp công tơ mét bị gãy, vỡ bật rời khỏi vị trí ban đầu, cánh yếm bên phải bị bật rời khỏi vị trí ban đầu, cánh yếm bên trái bị bật rời khỏi chốt định vị tạo khe hở chỗ rộng nhất 07cm. Càng giảm sóc bị đẩy cong từ trước ra sau từ phải sang trái một góc 20 độ, phần lốp, chắn bùn bị đẩy áp sát vào đầu ống giảm thanh. Tại vị trí ốc đầu trục bánh xe phía trước bên phải có vết quyệt trượt, hở kim loại, kích thước 01cm x 01cm trên bề mặt bám dính chất màu trắng xám. Phần sườn xe bên phải: Mặt ngoài chân phanh bên phải có vết quyệt trượt hở kim loại kích thước 04cm x 0,5cm có chiều từ dưới lên trên từ sau ra trước, chân phanh bị đẩy áp sát vào ống giảm thanh một góc 15 độ. Trục để chân phía trước bên phải bị gãy bật rời khỏi chốt định vị. Ốp nhựa bảo vệ ống giảm thanh có vết quệt trượt nhựa kích thước 09cm x 05cm có chiều từ trên xuống dưới từ sau ra trước. Ngoài ra không có dấu vết gì liên quan đến tai nạn.

Kết quả khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 30E-722.30: Phần sườn xe bên trái: Chắn bùn phía trước của bánh sau bên trái bị móp méo, biến dạng không rõ hình có kích thước 30cm x 05cm. Toàn bộ phần tôn cánh cửa, nẹp cửa, ốp gầm phía sau bên trái bị móp méo, biến dạng không rõ hình bị đẩy từ ngoài vào trong lệch khỏi vị trí ban đầu trên diện 50cm x 30cm. Tại vị trí ốp gầm cách điểm cuối chắn bùn bên trái về phía trước 25cm có vết quệt trượt, bám dính chất màu đen có chiều từ ngoài vào trong, từ trái sang phải kích thước 30cm x 15cm. Cách chắn bùn trước bánh sau bên trái về phía trước 07cm có vết rách , thủng kích thước 04cm x 01cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 31cm, có chiều từ ngoài vào trong từ trái sang phải. Ngoài ra không phát hiện có dấu vết gì liên quan đến tai nạn.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã tiến hành trưng cầu giám định để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Dương Thị V, chị Hà Thanh H và Bùi Tuấn T. Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ đã tiến hành giám định và kết luận như sau:

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Dương Thị V là 62% (sáu mươi hai phần trăm).

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Thanh H là: 32% (ba mươi hai phần trăm).

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Tuấn T là: 33% (ba mươi ba phần trăm).

Đối với thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19N1-251.21 và xe ô tô biển kiểm 30E-722.30, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản. Hội đồng định giá tài sản huyện T đã tiến hành định giá và kết luận: Giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19N1-251.21 là 3.290.000 đồng; Giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô biển kiểm soát 30E-722.30 là 2.500.000 đồng. Đối vời những thiệt hại này, các bị hại là Anh X và anh L tự khắc phục sửa chữa và không yêu cầu T phải bổi thường thiệt hại.

Tại cơ quan điều tra Bùi Tuấn T đã khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 23/4/2019, T nhận được cuộc điện thoại của anh Trần Xuân Tuấn X, sinh năm 1993 (ở khu 8, xã Xuân Quang, huyện T, giữa T và anh X có quen biết nhau từ trước) với nội dung ra cổng Trung tâm y tế huyện T mang hộ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19N1-251.21 về nhà, T đồng ý và đi bộ đến chỗ hẹn. Khi đến nơi anh X hỏi T đã có giấy phép lái xe chưa thì T trả lời “em có rồi” (thực tế là T chưa có giấy phép lái xe, mục đích nói dối anh X là để T mượn xe mô tô đi chơi). Anh X đưa chìa khóa xe mô tô cho T, T điều khiển xe mô tô đi đến đón chị Dương Thị V, chị Hà Thanh H để đi chơi cùng (T và chị V, chị H là bạn chơi với nhau). T điều khiển xe mô tô chở chị V và chị H phía sau đi từ xã C, huyện T theo đường Hồ Chí Minh đi đến xã Xuân Quang, huyện T. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh với đường Quốc lộ 32, T điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 60km/h và đi ở phần đường bên phải. Lúc này T quan sát thấy cột đèn tín hiệu giao thông ở trước ngã tư theo hướng đi của mình vẫn hoạt động bình thường và đang ở chế độ đèn màu đỏ. Tuy nhiên, T vẫn điều khiển xe mô tô để đi qua ngã tư, khi đi đến giữa ngã tư thì xe mô tô do T điều khiển đã đâm vào cánh cửa phía sau bên trái của xe ô tô do anh Đinh Ngọc L điều khiển cũng đang đi vào ngã tư theo chiều từ ngã tư C đi huyện S, làm T, chị V, chị H và xe mô tô đổ ngã xuống đường. T và chị V, chị H đều bị thương phải cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện T và Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ. Tính đến thời điểm xảy ra vụ tai nạn thì T được 16 tuổi 6 tháng 27 ngày, chưa có giấy phép lái xe theo quy định, khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không sử dụng rượu, bia hay chất kích thích gì.

Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã thu giữ 01 thẻ nhớ lắp trong camera hành trình của xe ô tô biển kiểm soát 30E-722.30, bên trong thẻ nhớ có ghi lại hình ảnh thời điểm xảy ra vụ tai nạn. Cơ quan Điều tra đã tiến hành chuyển hóa chứng cứ thể hiện nội dung như sau: Thời gian từ 12 giờ 47 phút 13 giây đến 12 giờ 48 phút 28 giây hình ảnh thể hiện xe ô tô BKS 30E-722.30 đang đi theo quốc lộ 32 hướng từ ngã tư C đi huyện S. Từ 12 giờ 48 phút 28 giây đến 12 giờ 48 phút 39 giây thể hiện xe ô tô đi ở phần đường bên phải trên đường Quốc lộ 32, phía trước là ngã tư giao nhau giữa đường quốc lộ 32 với đường Hồ Chí Minh. Tại ngã tư trên dải phân cách cứng bên phải theo hướng đi của xe ô tô có cột đèn tín hiệu giao thông đang hoạt động bình thường và ở chế độ tín hiệu đèn màu đỏ đến 12 giờ 48 phút 39 giây thì chuyển sang tín hiệu màu xanh. Thời gian từ 12 giờ 48 phút 39 giây đến 12 giờ 48 phút 42 giây khi đèn tín hiệu màu xanh ở giây thứ 19 thì xe ô tô BKS 30E-722.30 đi qua đèn tín hiệu giao thông vào ngã tư đi về phía huyện S. Thời gian từ 12 giờ 48 phút 42 giây đến 12 giờ 48 phút 45 giây có tiếng còi xe “bíp, bíp” và tiếng động “cạnh” ngay X tức hình ảnh bị rung lắc, hình ảnh bị quay sang trái ngược trở lại hướng đi về phía ngã tư C và dừng lại. Thời gian 12 giờ 48 phút 46 giây đến 12 giờ 50 phút 13 giây xuất hiện hình ảnh một người đàn ông (là anh Đinh Ngọc L) đang đi bộ về phía thị xã Phú Thọ. Như vậy, hình ảnh ghi lại của camera hành trình trên xe ô tô biển kiểm soát 30E-722.30 đã phù hợp với lời khai của T và những người có liên quan, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ tai nạn giao thông trên.

Trong quá trình điều tra, Bùi Tuấn T đã T khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, các bị hại là chị Dương Thị V, chị Hà Thanh H, anh Trần Xuân Tuấn X và anh Đinh Ngọc L đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T, hoàn cảnh gia đình của T thì mẹ đã mất, bố không biết là ai hiện nay đang sống cùng với ông Trương Đình Cử, tại khu 7, thị trấn K, huyện K, tỉnh Phú Thọ.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã thu giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19N1-251.21 và chiếc xe ô tô biểm kiểm soát 30E-722.30 cùng toàn bộ giấy tờ liên quan đến phương tiện, thu giữ của anh Đinh Ngọc L 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Đinh Ngọc L do Sở giao thông vận tải Hà Nội cấp ngày 08/8/2016. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của bà Đỗ Thị L, sinh năm 1964 (ở khu 8, xã Xuân Quang, huyện T là mẹ đẻ của anh Trần Xuân Tuấn X) và chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 30E-722.30 thuộc quyền sở hữu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thịnh Hưng tại Hà Nội (có địa chỉ tại khu đô thị Ressco, phường Cổ Nhuế 2, Quận Bắc Từ L, T phố Hà Nội). Vì vậy, cơ quan Điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại phương tiện cùng các giấy tờ liên quan đến phương tiện cho các chủ sở hữu, trả lại cho anh L 01 giấy phép lái xe hạng B2. Đối với 01 thẻ nhớ (nhãn hiệu SanDick Untra, dung lượng 32G) mà cơ quan Điều tra đã thu giữ của anh Đinh Ngọc L đã được niêm phong đưa vào hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Bùi Tuấn T và gia đình đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả thiệt hại về vật chất và tinh thần cho chị V và chị H mỗi người 2.000.000 đồng, chị V, chị H đã nhận số tiền trên và không yêu cầu T phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Ngoài ra anh Đinh Ngọc L đã tự nguyện hỗ trợ cho chị Dương Thị V số tiền 15.000.000 đồng, chị Hà Thanh H số tiền 5.000.000 đồng và anh Trần Xuân Tuấn X tự nguyện hỗ trợ cho chị V số tiền 30.000.000 đồng và Bùi Tiến T số tiền 1.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2019/HSST ngày 30/8/2019 của TAND

huyện T, tỉnh Phú Thọ đã: Căn cứ Điều 260 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tuấn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ: Điểm a - Khoản 2 - Điều 260, Điểm b,s - Khoản 1 - Điều 51, Khoản 2 - Điều 51, Điểm i - Khoản 1 - Điều 52, Điều 54, Khoản 1 - Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Tuấn T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 24/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2019/HSST ngày 30/8/2019 của TAND huyện T, tỉnh Phú Thọ với nội dung: Bị cáo là người chưa T niên, phạm tội do lỗi vô ý, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo, đề nghị chuyển hình phạt từ phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Sửa bản án sơ thẩm số: 35/2019/HSST ngày 30/8/2019 của TAND huyện T, tỉnh Phú Thọ theo hướng:

- Không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo T.

- Chuyển hình phạt của bị cáo Bùi Tuấn T từ 27 tháng tù sang hình phạt Cải tạo không giam giữ với mức từ 12 tháng đến 15 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trong hạn luật định được xem xét giải quyết.

Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận đã có hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các bị cáo khác, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ cho rằng:

Khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 23/4/2019, tại ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ 32 với đường Hồ Chí Minh ở Km 79+500 Quốc lộ 32 (thuộc khu 9, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ), Bùi Tuấn T đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19N1-251.21 khi đi vào ngã tư không chấp hành đèn tín hiệu giao thông đã vượt đèn đỏ, điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, chở quá số người quy định (chở chị Dương Thị V, chị Hà Thanh H phía sau) nên đã đâm vào xe ô tô biển kiểm soát 30E-722.30 do anh Đinh Ngọc L điều khiển. Hậu quả: chị V bị tổn thương cơ thể 62%, chị H bị tổn thương cơ thể 32%, bản thân T bị tổn thương cơ thể 33%.

Hành vi của Bùi Tuấn T đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, không oan, phù hợp với quy định của pháp luât.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Thứ nhất, người bị hại là chị Hà Thanh H và Dương Thị V đều dưới 16 tuổi. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là lỗi vô ý. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng: “Bị cáo phạm tội đối với người dưới 16 tuổi ....” là không đúng theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.1 Mục 2 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP, ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phấn tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự. Do vậy, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Thứ hai, người bị hại chị V và chị H đều là bạn của bị cáo. Trong quá trình giải quyết vụ án người bị hại, người giám hộ cho bị hại và những người liên quan đều có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được giảm đi đáng kể. Hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi vô ý, khi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 06 tháng 27 ngày, khả năng nhận thức còn hạn chế. Nguyên nhân một phần cũng là do hoàn cảnh gia đình bị cáo rất éo le, đặc biệt khó khăn, mẹ bị cáo đã chết, bố không biết là ai, người thân duy nhất của bị cáo là chị gái cùng mẹ khác cha cũng đã đi xây dựng gia đình, bị cáo ở với người thân bên chồng của chị gái nên thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự gì, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 27 tháng tù là nghiêm khắc chưa đúng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi quy định tại Điều 91 Bộ luật hình sự. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý, giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Do bị cáo là người chưa T niên, chưa lao động tự túc được nên miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phải lao động công ích trong quá trình cải tạo không giam giữ là phù hợp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa phù hợp nên chấp nhận.

Kháng nghị được chấp nhận nên bị cáo Bùi Tuấn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2019/HSST ngày 30/8/2019 của TAND huyện T, tỉnh Phú Thọ.

[2] Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 khoản, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”

Xử phạt: Bùi Tuấn T 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tình từ ngày Cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Bùi Tuấn T cho Ủy ban nhân dân xã thị trấn K, huyện K, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

[3] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Bị cáo phải lao động công ích trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động công ích không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Bùi Tuấn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ