vanban.org

Bản án 105/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 31/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HẢI!DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 105/2019/HS-ST
Ngày: 31/5/2019

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HẢI!DƯƠNG!-TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

!

-!Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Trần Thị Nhan.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"Bà Phạm Thị Lan, bà Nguyễn Thị Liên.

-"Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

-" Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đinh Nguyệt Hà -!Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2019/HSST ngày 17/5/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2019/HSST-QĐ ngày 21/5/2019, đối với bị cáo:

Nguyễn!Xuân!Th, sinh năm 1978; ĐKHKTT: Số 33 đường B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Bá T, con bà Trần Thị H; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày16/4/2019,chuyển tạm giam từ ngày 19/4/2019 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương. Có"mặt"tại"phiên"tòa."

- Người làm chứng:

+ Anh Trần Anh T1, sinh năm 1974.

Chỗ ở hiện nay: Khu 11, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

+ Ông Lê Văn Ch, sinh năm 1959.

Chỗ ở hiện nay: Khu 10, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Những"người"làm"chứng"đều"vắng"mặt"tại"phiên"tòa.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân Th là người nghiện chất ma túy (loại Hêrôin). Khoảng 9 giờ 15 phút, ngày 16/4/2019, Th đi bộ đến ngõ 64 phố A, thành phố H, mua được 01 gói ma túy với số tiền 100.000đ của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc, đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 9 giờ 40 phút cùng ngày, khi Th đi đến trước cổng chùa L, đường T, phường Q, thành phố H thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Hải Dương phát hiện kiểm tra, thu giữ trong túi quần bên phải Th đang mặc 01 gói giấy màu trắng kích thước (0,5x1)cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng trước sự chứng kiến của anh Trần Anh T1 và ông Lê Văn Ch.

Tại Kết luận giám định số 184/KLGĐ-PC09 ngày 18/4/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng niêm phong trong bì thư ghi thu của Nguyễn Xuân Th, gửi đến giám định có khối lượng là 0,169 gam là loại Heroine. (Heroine nằm trong danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018của Chính phủ).

Về vật chứng: Đối với 0,126 gam Heroine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì số 184/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HD hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố HD.

Tại Cáo trạng số 99/CT-VKSTPHD, ngày 16/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Th, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Th từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 16/4/2019; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,126 gam Heroine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì số 184/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HD. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân Th tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 16/4/2019, tại trước cổng chùa L, đường T, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Xuân Th có hành vi đang cất giấu trái phép 0,169 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Hải Dương bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm sản xuất, quản lý và sử dụng nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện, ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Việc bị cáo cất giấu trái phép 0,169 gam Heroine để sử dụng là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

[2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Bá T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng:

- Đối với 0,126 gam Heroine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì số 184/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HD là chất cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về án phí: Bị cáo bị kết án có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, do không biết họ tên, địa chỉ cụ thể không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý.

[7] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố HD, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí sô 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Th 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 16/4/2019).

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 0,126 gam Heroine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì số 184/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HD"(Đặc"điểm"vật"chứng"theo"biên"bản"giao"nhận"vật"chứng"giữa" Công" an" thành" phố" HD" và" Chi" cục" Thi" hành" án" dân" sự" thành" phố" HD" ngày" 17/5/2019)."

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Th phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/5/2019)./.

Cỡ chữ