vanban.org

Bản án 105/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội Tuyên án 20/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bi cáo Nguyễn Hữu Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Nguyễn Thị M 26 ( Hai mươi sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ 22/12/2018 đến ngày 29/12/2018. Xử phạt: Nguyễn Hữu Ph 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ 22/12/2018 đến ngày 29… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Mến, Nguyễn Hữu Phong mua bán, tàng trữ ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bi cáo Nguyễn Hữu Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂY HỒ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105 /2019/HS-ST
Ngày: 20/8 /2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hồng Lan

Bà Nguyễn Thị Ngân Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Hoàng Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Tây Hồ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ tham gia phiên tòa: Ông Dương Xuân Quang - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2019/TL ST - HS ngày 18 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Thị M, sinh năm 1958; Nơi ĐKHKTT: Số 79, đường 10, phường Ph, quận B, thành phố H; Nơi cư trú: Số 8, ngách 35, ngõ 76 đường A, phường T, quận T, thành phố H; Nghề nghiệp: không; Tr×nh ®é văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình Đ; Con bà: Bùi Thị L (đã chết);Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 28 ngày 28/12/2018 của Công an quận Tây Hồ lập và lý lịch địa phương cung cấp thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự ; Nhân thân: có 01 tiền án, 01 tiền sự:

Tiền án: Bản án số 291/HS/ST ngày 11/8/1992 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách là 16 tháng về tội “ Bắt giữ người trái pháp luật”.

Tiền sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân năm 1991

Bị cáo bị bắt từ ngày 22/12/2018 đến ngày 29/12/2018, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú (có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Hữu Ph - sinh năm 1983; Nơi ĐKHKTT: Số 79, đường 10, phường Ph, quận B, thành phố H; Nơi cư trú: Số 8, ngách 35, ngõ 76 đường A, phường T, quận T, thành phố H; Nghề nghiệp: Không; Tr×nh ®é văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu D (đã chết), con bà Nguyễn Thị M; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 104 ngày 28/12/2018 của Công an quận Tây Hồ lập và lý lịch địa phương cung cấp thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự; Nhân thân có 01 tiền án:

Bản án số 56/2018/HSST ngày 21/3/2013 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” ( Chấp hành xong án phạt tù ngày 12/01/2015).

Bị cáo bị bắt từ ngày 22/12/2018 đến ngày 29/12/2018, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/12/2018, Nguyễn Thị M dọn hàng ra bán nước tại trước cửa số 8 ngách 35 ngõ 76 A, phường T, quận T, Thành phố H thì có một nam thanh niên lạ mặt đến hỏi M về Ph. M nghĩ nam thanh niên đến tìm Ph hỏi mua ma túy nên M gọi lại và nói: “Thằng Ph nó còn một cái để trong nhà, mày lấy thì tao để cho mày”. của M hỏi nam thanh niên có mua ma túy (heroine) thì M vào nhà lấy ra bán cho, mục đích của M khi bán ma túy là để lấy tiền mua thuốc cho Ph. N thanh niên đồng ý mua và đưa cho M 100.000 đồng. M cầm tiền cất vào túi đeo trước bụng rồi đi bộ vào nhà tại hẻm 76/35/8 A, phường Tư, quận T, thành phố H để lấy ma túy bán cho khách. Khi đi lên tầng 2, M thấy Ph đang ngủ trên đệm dưới sàn nhà, tại đầu đệm có 02 (hai) gói giấy màu bạc bên trong chứa ma túy (heroine) ở ngay chỗ Ph đang nằm ngủ. Mến biết 02 gói giấy bạc chứa ma túy trên là của Ph và dùng tay phải lấy 02 gói ma túy ở dưới đệm, cầm ở trong lòng bàn tay phải, đi ra đầu hẻm 76/35/8 An Dương nơi nam thanh niên mua ma túy đang đứng chờ để giao bán ma túy. Khi chưa kịp đưa ma túy cho khách hỏi mua ma túy thì bị tổ công tác công an phường Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội kiểm tra bắt giữ.

Nguyễn Hữu Ph khai nhận: Ph là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 23 giờ 00 ngày 21/12/2018, Ph đi bộ ra khu vực cửa khẩu An Dương, Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây Ph đã gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy heroine với giá 100.000 đồng , mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, Ph mang về nhà và sử dụng một phần, phần ma túy còn lại Ph chia vào hai gói giấy bạc và để ở trên đệm phía góc tường trên đầu đệm rồi đi ngủ. Việc Nguyễn Thị M lấy 02 gói ma túy trên đi bán cho khách, Ph hoàn toàn không biết, cũng không được hưởng lợi gì.

Vật chứng thu giữ.

+Thu giữ của Nguyễn Thị M: 02 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột mầu trắng; 01 điện thoại di động Philips màu đen đã qua sử dụng; 01 túi đeo giả da màu đen và số tiền 588.000 đồng

+ Thu giữ của Nguyễn Hữu Ph: 01 điện thoại di động oppo màu vàng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Sam sung Duos màu trắng đã qua sử dụng

Tại bản kết luận giám định số 9724 ngày 29/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - CA Thành Phố Hà nội kết luận: 02 gói chất bột màu trắng thu giữ của M là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,124 gam.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Ph: Ngày 21/3/2019, công an quận Tây Hồ đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Hữu Ph, hình thức xử phạt cảnh cáo.

Đối với người đàn ông bán mua ma túy cho Ph ở cửa khẩu An Dương, Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội. Ph khai không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và rà soát Camera tại khu vực cửa khẩu An Dương,Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội nhưng không phát hiện được nên cơ quan điều tra không có căn cứ, xác định làm rõ.

Đối với đối tượng mua ma túy của Nguyễn Thị M, M không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Vì vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định làm rõ.

Đối với Nguyễn Hữu Tr là còn đẻ của Nguyễn Thị M ở cùng nhà với M và Ph,Tr không biết việc M bán ma túy và Ph tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Tây Hồ không có căn cứ xử lý.

Đối với các đồ vật, tài sản là tiền, điện thoại, túi đeo thu giữ của Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Ph các bị cáo khai nhận là tài sản riêng của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bản cáo trạng số 51/CT – VKSTH ngày 09 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Truy tố Nguyễn Hữu Ph về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi như tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị M cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của Nguyễn Hữu Ph cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Thị M; Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Hữu Ph. Áp dụng Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án đối với cả hai bị cáo.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt Nguyễn Thị M từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Đề nghị xử phạt Nguyễn Hữu Ph từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 gói giấy màu bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,124 gam.

Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Philips màu đen đã qua sử dụng và số tiền 588.000 đồng thu giữ của M. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động oppo màu vàng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Sam sung Duos màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Ph

Trả lại bị cáo Nguyễn Thị M 01 túi đeo giả da màu đen.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng: Các bị cáo biết mình sai, vi phạm pháp luật, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/12/2018, tại hẻm 76/35/8 đường An Dương, phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị M có hành vi bán trái phép chất ma túy loại heroine, khối lượng 0,124 gam. Nguyễn Hữu Ph có hành vi cất giấu ma túy loại heroine, khối lượng 0,124 gam tại số 8 ngách 35 ngõ 76 An Dương, phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị M cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của Nguyễn Hữu Ph cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn Tây Hồ, thành phố Hà Néi đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Hữu Ph về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được bộ luật Hình sự bảo vệ, làm gia tăng tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV – AISD.

Xét nhân thân bị cáo M đã có 01 tiền án và 01 tiền sự. Nhân thân bị cáo Ph có 01 tiền án về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Các bị cáo đều biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Điều đó thể hiện các bị cáo coi thường pháp luật. Do đó, cần phải áp dụng một hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Vể tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung như phạt tiền: Xét thấy các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng.

Về vật chứng: +Tịch thu tiêu hủy 02 gói giấy màu bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng, kết luận giám định số 9724 của Phòng kỹ thuật hình sự-CA Thành Phố Hà nội trả lời là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,124 gam, đã được niêm Ph.

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Philips màu đen đã qua sử dụng, số Imei 868838023609690 và số tiền 588.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị M. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động oppo A83, không kiểm tra được Imei; 01 điện thoại di động Samsung Duos, Imei: 352839/06/124597/8 thu giữ của Nguyễn Hữu Ph

+ Trả lại bị cáo Nguyễn Thị M 01 túi đeo giả da màu đen.

Đối với người đàn ông bán mua ma túy cho Ph ở cửa khẩu An Dương, Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội và đối tượng mua ma túy của Nguyễn Thị M: Ph và M đều không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ, xác định làm rõ là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Hữu Tr,Tr không biết việc Mến bán ma túy và Ph tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Tây Hồ không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bi cáo Nguyễn Hữu Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Thị M .

-Xử phạt: Nguyễn Thị M 26 ( Hai mươi sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ 22/12/2018 đến ngày 29/12/2018.

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Hữu Ph.

-Xử phạt: Nguyễn Hữu Ph 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ 22/12/2018 đến ngày 29/12/2018.

2. Hình phạt bổ sung: Không

3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

+Tịch thu tiêu hủy 02 gói giấy màu bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng, kết luận giám định số 9724 của Phòng kỹ thuật hình sự-CA Thành Phố Hà nội trả lời là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,124 gam, đã được niêm Ph.

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Philips màu đen đã qua sử dụng, số Imei 868838023609690 và số tiền 588.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị M. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động oppo A83, không kiểm tra được Imei; 01 điện thoại di động Samsung Duos, Imei: 352839/06/124597/8 thu giữ của Nguyễn Hữu Ph

+ Trả lại bị cáo Nguyễn Thị M 01 túi đeo giả da màu đen.

(Tang vật có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2019 và tại Kho bạc nhà nước Tây Hồ theo Biên bản giao nhận tài sản số 16/11754/BBGN – KBNN ngày 20/2/2019).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Thị M, Nguyễn Hữu Ph mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ