vanban.org

Bản án 105/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Mai Văn B 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 26 Luật thi hành án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
TP. HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2018/HSST
Ngày: 29/ 06/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Liên Hội thẩm nhân dân

: Ông Nguyễn Đức Thành

Ông Đinh Quang Huấn Thư ký ghi biên bản phiên toà : Bà Đặng Thị Vân Kiều - Cán bộ Toà án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì:

Bà Phạm Thuý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, Tại trụ Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 111/2018/HSST ngày 15/6/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Văn B - sinh năm 1972

Nơi ĐKNKTT: Giao Nhân, Giao Thuỷ, Nam Định và chỗ ở : không nơi cư trú nhất định, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn Hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn Giáo: không; Con ông: Mai Văn T (đã chết), Con bà: Vũ Thị T (đã chết). Gia đình có 8 anh em, bị cáo là con thứ 7. Có vợ là Phùng Thị Dậu sinh năm 1980, có 01 con, sinh năm 2009. Danh chỉ bản số 0147 ngày 23/3/2018 Công an huyện T lập. Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/03/2018 hiện đang bị tạm giam ở trại giam số 2 - Công an Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.

Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 22/3/2018, Mai Văn B đi bộ từ Hà Đông đến khu vực bệnh viện 09 thuộc thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội để mua ma tuý về sử dụng. Tại đây B gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 01 gói Heroin với giá 100.000đồng. Sau khi mua được ma tuý, B cầm gói ma tuý ở lòng bàn tay phải và đi về.

Hồi 15 giờ cùng ngày, tổ công tác đội CSĐTTP về ma tuý- Công an huyện T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đường C, xã T, huyện T, Hà Nội phát hiện Mai Văn B đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại lòng bàn tay phải của Bàng 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, B khai 01 gói chất bột màu trắng là Heroin, B vừa mua để sử dụng nên tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa Bàng về trụ sở cơ quan Công an để giải quyết.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng đã thu giữ của Mai Văn B.

Tại bản kết luận giám định số 2066/KLGĐ - PC 54 ngày 29/03/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma tuý loại Heroin, khối lượng 0,133gam. Cơ quan giám định đã sử dụng 0,017 gam ma tuý để tiến hành giám định, còn 0,116 gam trả lại Cơ quan CSĐT- Công an huyện T.

Tại Cơ quan CSĐT - Công an huyện T, Mai Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của Bàng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho B, do B không quen biết và không xác định tên tuổi, địa chỉ của người này, do đó không có căn cứ để xác minh, làm rõ và xử lý.

Tại bản cáo trạng: số 103/ CT-VKS TT ngày 14/6/2018,Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố Mai Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, Mai Văn B thừa nhận nội dung Bản cáo trạng là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn ăn năn hối cải, hứa sẽ sửa chữa và đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mai Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015, như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T.

Đề nghị Tòa xử phạt Mai Văn B từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Tòa tịch thu tiêu hủy 01 gói Heroine có khối lượng 0,116 gam sau khi đã giám định.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Hồi 15 giờ ngày 22/3/2018 tại đường C, xã Y, xã T, huyện T, Hà Nội, khi Mai Văn B tàng trữ trong lòng bàn tay trái 01 gói Heroine có khối lượng 0,133 gam để sử dụng thì bị tổ công tác đội CSĐTTP về ma tuý - Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Đối chiếu pháp luật Mai Văn B đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.

Như vậy hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Mai Văn B đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự

Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 - bộ luật hình sự năm 2015 Tòa xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thể hiện nhân thân tốt. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhưng coi thường pháp luật, do đó cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục đối với bị cáo, mới có tác dụng đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có việc làm thu nhập ổn định và áp dụng hình phạt tù, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 gói ma tuý 0,116 gam Heroine.

Xét thấy số Heroine đã thu giữ là chất độc hại cấm lưu hành không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51,

- Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Mai Văn B 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2018.

Về vật chứng: căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01gói Heroine có khối lượng 0,116 gam ( Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã thu giữ 0,133 gam Heroine. Sau khi giám định đã trả lại cho Công an huyện Thanh Trì 0,116 gam Heroine ). Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Công an huyện T.

Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Điều 20, 22, 26 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về quyền thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ