vanban.org

Bản án 105/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 12/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thiện Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Trần Thiện Th 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thiện Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:105/2017/HSST
Ngày: 12/09/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Bình.

Ông Lê Văn Tú.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 09 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 118/2017/TL- HSST, ngày 21 tháng 08 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Thiện Th, sinh năm 1980 (Tên gọi khác Trần Văn Th), tại xã Y, huyện L, tỉnh B; Nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện L, tỉnh B. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Trần Mạnh T và bà Nguyễn Thị Kh; Vợ Lê Thị Ph, bị cáo có một con sinh năm 2006; Tiền án; tiền sự: Không; Lịch sử bản thân: Ngày 16/11/1998, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người làm chứng: Anh Phạm Văn S, sinh năm 1963.

Trú tại: Số nhà 03, phố Ph, phường B, thành phố B, tỉnh B (Vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Thiện Th bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 09 giờ, ngày 30/05/2017, bị cáo điểu khiển xe moto từ nhà đến khu vực bờ đê sông đáy thuộc xã B, huyện Y, tỉnh Đ gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 200.000đồng được 02 gói ma túy, gói ngoài bằng giấy bạc mầu trắng, bị cáo cầm ở tay trái rồi đi về thành phố B tìm nơi sử dụng. Khi bị cáo đi đến khu vực trước cửa nhà hàng trâu giật Kinh Bắc – đường Tôn Đức Thắng, phố B, phường Th, thành phố B thì bị Công an phường Tân Thành, phối hợp cùng công an phường Đông Thành, kiểm tra hành chính, bị cáo thả hai gói ma túy xuống nền đường thì bị Công an phát hiện yêu cầu bị cáo nhặt hai gói ma túy lên giao nộp.

Tại bản kết luận giám định số: 137/KLGĐ-PC45-MT, ngày 01/06/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận "Chất bột dạng cục mầu trắng ký hiệu M1 có khối lượng 0,0972gam, M2 có khối lượng 0,0983 gam, tổng là 0,1955gam đều là chất ma túy loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 116/CT- VKS ngày 18.08.2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Thiện Th ra trước Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trần Thiện Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 và khoản 1 Điều 249, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20-06-2017 của Quốc hội xử phạt Trần Thiện Th từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Bị cáo Trần Thiện Th thừa nhận hành vi tàng trữ 0,1955gam Heroine phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và biên bản, ngày 30 tháng 05 năm 2017, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác đã được xem xét công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Thiện Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo hiện mắc bệnh hiểm nghèo HIV/AIDS giai đoạn cuối, gia đình kinh tế khó khăn (Hộ cận nghèo) đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử thấy tội danh, loại, mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, cần phải xử phạt bị cáo loại, mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tại thời điểm xét xử, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, có lợi cho người phạm tội. Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20-06-2017 của Quốc hội, Hội đồng xét xử áp dụng khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử lý đối với bị cáo. Phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho Bị cáo học tập, cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,0917gam Heroine, là chất cấm lưu hành và toàn bộ vỏ bao dùng gói ma túy trong gói niêm phong ban đầu không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Quá trình điều tra Cơ quan công an có thu giữ của bị cáo một xe moto nhãn hiệu SILVA, BKS 35N5-7264, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Trong vụ án có người bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không rõ tên, địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra để xử lý.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thiện Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20-06-2017 của Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Trần Thiện Th 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,0917gam Heroine và toàn bộ vỏ bao dùng gói ma túy, trong gói niêm phong ban đầu, trả lại cho bị cáo Trần Thiện Th một xe moto nhãn hiệu SILVA, BKS 35N5-7264. Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 08 năm 2017, giữa Công an thành Phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thiện Th phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng.

Án xử sở thẩm công khai, Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ