- Tranh chấp gì? "Liêng Hót Bi N “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên b n n sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật T tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
N NH N N
C N H
H CH N H V T N M
T NH M Đ N
Đ c p – T do – H nh ph c B n n s : 104/2019/HS-PT gày: 08-11-2019
NHÂN DANH
N C C N H
H CH N H V T N M
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH M Đ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Dư Thành Trung
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Ông Nguyễn Văn Bỉnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng-Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh-Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 139/2019/TLPT-HS, ngày 15-10-2019 đ i với bị cáo Liêng Hót Bi N, do kháng cáo của bị cáo đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 22/2019/HS-ST ngày 10-9-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Liêng Hót Bi N, sinh năm 1986 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐK KTT và cư trú: Thôn b, xã ĐL, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 5/12; dân Tộc: Cil; con ông: Cơ Liêng K’Chăn và bà Liêng Hót K’H (c 2 đã chết); vợ: Kơ Să K’L, sinh năm 1994; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10-7-2019; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thanh Luyến-Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm trợ giúp ph p lý nhà nước tỉnh tỉnh Lâm Đồng; Có mặt.
Trong vụ án này còn có Nguyên đơn dân sự Ban quản lý rừng SêRêPốk; người có nghĩa vụ liên quan ông Kơ Să Ha T; ông Rơ Ông Ha N không kháng cáo; không bị kháng cáo và kháng nghị.
N
UN VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Liêng Hót Bi N sinh ra và lớn lên tại xã ĐL, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vào năm 2013, thì vợ chồng làm ăn sinh s ng tại địa phương; gia đình thuộc diện hộ nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì mu n có gỗ để làm nhà ở riêng, nên vào kho ng 09 giờ 00 phút ngày 19-6-2019, Liêng Hót Bi N một mình đi lên lô d kho nh 5 tiểu khu 72, thuộc địa giới hành chính xã Đạ Long tìm cây gỗ để cửa, xẻ.
Tại đây, Bi ph t hiện 05 cây Thông tre l ngắn, còn s ng, có đường kính g c từ 0,3m đến 0,5m; sau đó, Bi N về nhà chuẩn bị 01 m y cưa xăng cầm tay, xăng và nhớt (m y cưa đã mượn trước đó của anh vợ là Kơ Să Ha T, sinh năm 1991, trú cùng thôn). Đến kho ng 07 giờ 00 phút ngày 20- 6- 2019, Bi Na đi lên vị trí c c cây Thông đã chọn, sử dụng m y cưa mang theo lần lượt cưa hạ 05 cây Thông tre l ngắn trong kho ng 03 giờ thì xong. Đến s ng ngày 21-6-2019, Bi N rủ thêm em cột chèo là Rơ Ông Ha , sinh năm 1996, trú cùng thôn đi phụ giúp việc cưa, xẻ gỗ. Tại hiện trường, Bi đã sử dụng m y cưa cắt phần g c 01 cây Thông tre l ngắn có đường kính g c kho ng 0,5m thành 01 pi dài 06m. Rồi xẻ thành 12 thanh đà có kích thước 6 x 0,07 x 0,2m. Ha Noi không biết cưa, xẻ nên phụ giúp Bi N bật mực và kê gỗ. Sau khi xẻ xong 12 thanh đà, Bi N và Ha N giấu m y cưa ở g c cây trong rừng rồi đi về. Kho ng 01 tuần sau, Bi N quay lại hiện trường để tiếp tục cưa xẻ gỗ, thì ph t hiện m y cưa đã bị mất.
Đến ngày 09- 7- 2019, Bi N nghe tin Trạm qu n lý qu n lý b o vệ rừng Đạ Long đang tạm giữ 01 m y cưa, ai mất thì lên nhận lại. ên s ng ngày 10-7-2019 Bi N lên Trạm Đạ Long hỏi, thì được được c n bộ Trạm đưa đến Hạt Kiểm lâm để làm việc. Tại đây Bi đã thừa nhận hành vi khai th c tr i phép 05 cây Thông tre l ngắn, như đã nêu trên.
Theo kết qu kh m nghiệm hiện trường ngày 10-7- 2019, x c định: Tại vị trí lô d kho nh 5 tiểu khu 72, xã Đạ Long, huyện Đam Rông, có 05 cây Thông tre l ngắn (nhóm IIA) bị cưa xẻ tr i phép, tổng kh i lượng lâm s n bị thiệt hại là 7,437m3, trạng th i rừng thường xanh trung bình, đ i tượng rừng s n xuất là rừng tự nhiên, hình thức t c động dùng m y cưa xăng cầm tay. Toàn bộ lâm s n còn nguyên tại hiện trường.
Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 m y cưa xăng cầm tay, vỏ bên ngoài màu cam-trắng-đen, trên vỏ bên ngoài có ghi dòng chữ STIHL, Lam dài 80cm, không có xích, m y đã cũ. Đ i với s gỗ tại hiện trường, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng s 18 ngày 07-8-2019, bàn giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Đam Rông xử lý theo quy định.
Theo B n kết luận định gi tài s n s 30 ngày 02-8-2019 của Hội đồng định gi tài s n huyện Đam Rông, kết luận: Gi trị thiệt hại về lâm s n của 05 cây Thông tre l ngắn do Liêng Hót Bi khai th c tr i phép là 11.810.000 đồng, gi trị thiệt hại về môi trường là 35.430.000 đồng, tổng gi trị thiệt hại về rừng là 47.240.000 đồng.
Tại b n cáo trạng s 22/CT-VKS ngày 19-8-2019 của Viện kiểm sát nhận dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã truy t ra trước Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng để xét xử bị cáo Liêng Hót Bi N về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản ” theo quy định tại điển b kho n 1 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại b n n hình sự sơ thẩm s 22/2019/HS-ST, ngày 10- 9- 2019 của Tòa n nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
Tuyên b bị cáo Liêng Hót Bi N phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 232; điểm i, s kho n 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Liêng Hót Bi N 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10- 7- 2019.
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; buộc bị cáo ph i bồi thường s tiền 11.810.000 đồng để sung vào công quỹ nhà nước.
B n n còn xử lý vật chứng, tuyên n phí và quyền kh ng c o theo quy định của ph p luật.
Ngày 20- 9-2019, bị c o kh ng c o xin gi m nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị c o giữ nguyên kh ng c o và xuất trình chứng cứ mới là 05 tờ biên lai thu tiền của Chi cục thi hành n dân sự huyện Đam Rông nội dung thể hiện anh vợ của bị c o là Kơ Să Ha T đã nộp bồi thường thay cho bị c o s tiền là 11.900.000 đồng để khắc phục hậu qu .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc gi i quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị c o, giữ nguyên b n n sơ thẩm.
gười bào chữa cho bị c o không tranh luận với đại diện Viện kiểm s t về tội danh, điều kho n Bộ luật hình sự đã p dụng đ i với bị c o, người bào chữa chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị c o là người dân tộc thiểu s , nhận thức ph p luật còn hạn chế, hoàn c nh gia đình khó khăn, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tích cực t c động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu qu nên đề nghị xử phạt bị c o hình phạt tù bằng với thời gian bị c o đã bị tạm giam.
NHẬN ĐỊNH C T
N:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Với mục đích mu n có gỗ để làm nhà ở, bị cáo Liêng Hót Bi N một mình đi lên lô d kho nh 5 tiểu khu 72, thuộc địa giới hành chính xã Đạ Long tìm cây gỗ để cửa, xẻ. Tại đây, Bi ph t hiện và cưa hạ 05 cây Thông tre l ngắn, còn s ng, có đường kính g c từ 0,3m đến 0,5m, sau đó bị c o đã dùng m y cưa xăng cầm tay cưa hạ 05 cây rồi sẻ thành cây thanh đà. Tổng kh i lượng lâm s n mà bị khai th c là 7,437m3, thuộc nhóm IIA, đ i tượng rừng mà bị c o khai th c tr i phép là rừng s n xuất tự nhiên. Theo kết qu định gi của Hội đồng định gi huyện Đam rông x c định thì tổng gi trị thiệt hại về lâm s n và môi trường là 47.240.000 đồng, trong đó thiệt hại về lâm s n là 11.810.000 đồng, thiệt hại về môi trường là 35.430.000 đồng.
Đ i chiếu lời khai nhận của bị cáo cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa n cấp sơ thẩm đã tuyên b bị c o Liêng Hót Bi N phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 232; điểm i, s kho n 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Liêng Hót Bi Na 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng ph p luật.
[2] Xét kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt của bị cáo Liêng Hót Bi N thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ qu n lý và b o vệ của hà nước về rừng và lâm s n, làm nh hưởng xấu đến môi trường sinh th i địa bàn huyện Đam Rông nói riêng và tỉnh Lâm đồng nói chung, thể hiện bị c o coi thường ph p luật và kỷ cương xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã p dụng các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo (điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự) để tuyên phạt bị cáo với mức án 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị c o giữ nguyên kh ng c o và xuất trình chứng cứ mới là 05 tờ biên lai thu tiền của Chi cục thi hành n dân sự huyện Đam Rông nội dung thể hiện anh vợ của bị c o là Kơ Să Ha T đã nộp bồi thường thay cho bị c o s tiền là 11.900.000 đồng để khắc phục hậu qu . Đây là tình tiết gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị c o với mức n nêu trên là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị c o gây ra, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo. Cần giữ nguyên B n n sơ thẩm như ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Về án phí: Do kh ng c o không được chấp nhận nên bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên b n n sơ thẩm.
Tuyên b bị cáo Liêng Hót Bi N phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 232; điểm b, i, s kho n 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015; xử phạt bị cáo Liêng Hót Bi N 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10-7-2019.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Liêng Hót Bi N ph i chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của b n n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1- TANDTC (1); - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1); - Phòng KTNV&THA (2); - Sở Tư ph p tỉnh Lâm Đồng (1); - TAND huyện Đam Rông (3); - VKSND huyện Đam Rông (1); - Cơ quan CSĐT CA huyện Đam Rông (1); - Chi cục THADS huyện Đam Rông (1); - NTG Công an huyện Đam Rông (2); - Bị cáo (1); - Lưu hồ sơ (1); Án văn (1). | TM. H I Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PH N – CH TỌ PH ÊN T (Đã ký) ư Thành Trung |