- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Dúa P tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 104/2022/HSST Ngày: 28/9/ 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Đà.
2. Ông Vừ A Câu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Ôn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Dúa P (tên gọi khác: không), sinh năm: 1967 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: bản T, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: không học; con ông Vàng Chứ D ( đã chết) và bà Lầu Thị C (đã chết); gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; vợ: Lầu Thị C, sinh năm 1969 và có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/6/2022 đến ngày 19/6/2022 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 09/6/2022, Vàng Dúa P đang ở nhà tại bản T, xã P thì có 01 người đàn ông dân tộc Mông giới thiệu tên là S đến rủ P đi tìm mua ma túy về cùng sử dụng. Pó đồng ý rồi lên xe mô tô của S đi đến bản N, xã X, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy. Khi đến nơi. S đưa cho V 1.180.000 đồng và bảo P đi tìm mua ma túy, P cầm tiền rồi đi vào nhà Lầu Gà S, trú tại bản N, xã X, huyện Đ đưa cho S 1.000.000 đồng nhờ S đi mua ma túy hộ. S cầm tiền rồi đi khoảng 30 phút quay lại bảo với Pđã nhờ người đi mua ma túy rồi. Vàng Dúa P ngồi chờ khoảng 02 tiếng thì có một người thanh niên ( không rõ tên, địa chỉ) đến đưa cho P 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng. Sau khi mua được Heroine Vàng Dúa P quay lại chỗ S đang đợi rồi lên xe đi về nhà. Khi về đến bản T, xã P, huyện Đ gặp tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã P đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe kiểm tra, S lao xe chạy thoát, tổ công tác giữ được Vàng Dúa P, do lo sợ nên P đã thả gói ma túy xuống dưới lề đường thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ của Vàng Dúa P là 01 gói chất bột trắng nghi là Heroine và số tiền 180.000 đồng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, trích mẫu giám định ngày 10/6/2022 và Kết luận giám định số 801/KL-KTHS ngày 16/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận số chất bột trắng thu của Vàng Dúa P có khối lượng 3,64 gam, mẫu trích 0,09 gam gửi giám định là ma túy loại Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 808/KL-KTHS ngày 16/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: toàn bộ số tiền 180.000đ thu giữ của Vàng Dúa P là tiền thật.
Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được người đàn ông dân tộc Mông tên là S theo lời khai của bị cáo đã đưa tiền để bị cáo đi mua ma túy. Đối với Lầu Gà S trú tại bản N, xã X, huyện Đ bị cáo khai đã đi mua ma túy hộ cho bị cáo hiện vắng mặt tại địa phương nên chưa xử lý được.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSĐBĐ ngày 13/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Vàng Dúa P về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vàng Dúa P về tội danh tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng Dúa P từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 3,55 gam Heroine còn lại sau khi giám định, trả lại cho bị cáo số tiền 180.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Vàng Dúa P bị truy tố thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể bị cáo khai vì muốn được sử dụng ma túy cùng nên bị cáo có hành vi đi mua ma túy cùng với một người đàn ông tên S, bị cáo đã trực tiếp cầm tiền đi mua được một gói Heroine giá 1.000.000đ, chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ, gói Heroine khối lượng là 3,64 gam. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 09/6/2022, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định bị cáo Vàng Dúa P có hành vi tàng trữ 3,64 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước; gây mất trật tự trị an xã hội; bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự cố ý mua tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Tại phiên tòa, bị cáo cũng nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến gì khác.
. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bản thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự; nghiện ma túy do đua đòi bè bạn, từ nghiện chất ma túy dẫn đến mua tàng trữ sử dụng nên phạm tội như ngày hôm nay. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; mẹ đẻ của bị cáo là bà Lầu Thị C được nhà nước tạng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, tài sản trong gia đình chỉ là đồ dùng thiết yếu, thuộc hộ nghèo do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát đề xuất.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án:
Vật chứng thu giữ của bị cáo là 3,64 gam Heroine, đã trích trừ giám định 0,09 gam không hoàn lại, còn 3,55 gam Heroine, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số tiền 180.000 đồng thu giữ của bị cáo, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh số tiền trên liên quan đến hành vi phạm tội cho nên cần trả lại cho bị cáo sử dụng theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên là Sú Dua theo lời khai của bị cáo đã đưa tiền để bị cáo đi mua ma túy không có thông tin cụ thể nên chưa điều tra làm rõ được và đối với Lầu Gà S trú tại bản N, xã X, huyện Đ bị cáo khai đã đi mua ma túy hộ cho bị cáo hiện vắng mặt tại địa phương nên chưa xử lý được. Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Vàng Dúa P ( tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Vàng Dúa P 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 10/6/2022).
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 3,55 gam Heroine (đã trừ giám định)
- Trả lại cho bị cáo Vàng Dúa P số tiền 180.000 đồng (Một trăm tám mươi nghìn đồng).
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 14/92022 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Dúa P.
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/9/2022).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Cơ quan CSĐT C.A huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - CC.THADS huyện Đ; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |