- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị X được ly hôn anh Trương Văn Lê .
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 104 /HNGĐ - ST Ngày 28/6/2024 |
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Xanh và anh Lê
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Thanh.
2. Ông Nguyễn Đình Khởi.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Anh Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 48/2024/TLST – HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị X, sinh năm 2001. Địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có mặt)
Bị đơn: Anh Trương Văn L, sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 01/4/2024, tại Bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Phan Thị X trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trương Văn L đăng ký kết hôn vào ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, lừa dối. Trong quá trình chung sống, do tính tình không hợp nhau, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn nên cuộc sống không hạnh phúc. Giữa vợ chồng có quá nhiều điểm khác biệt, không thể hòa giải. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 03 năm 2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp giải quyết ly hôn với anh Trương Văn Lê .
Về con chung: Giữa chị và anh Trương Văn L có một con chung là Trương Thị Ngọc T, sinh ngày 05/02/2019. Nếu ly hôn, chị X xin được nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh Lê x nuôi con thì chị X đồng ý giao con cho anh L nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Phan Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qua đơn trình bày ý kiến anh Trương Văn L là bị đơn trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Phan Thị X đăng ký kết hôn vào ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, lừa dối. Trong quá trình chung sống, do tính tình không hợp nhau, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn nên cuộc sống không hạnh phúc. Giữa vợ chồng có quá nhiều điểm khác biệt, không thể hòa giải. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị X làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp giải quyết ly hôn thì anh Trương Văn L cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh Trương Văn L nhất trí với ý kiến trình bày của chị Phan Thị X là vợ chồng có một người con chung là Trương Thị Ngọc T, sinh ngày 05/02/2019. Ly hôn, anh Lê x được trực tiếp nuôi dưỡng và tạm thời anh chưa yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
- Về tài sản: Anh Trương Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản chung của vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp phát biểu ý kiến:
+ Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, xử: Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị X được ly hôn anh Trương Văn L ; Về con: Giao con Trương Thị Ngọc T, sinh ngày 05/02/2019 cho chị Phan Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 06 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành). Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn Lê . Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản: Chị Phan Thị X và Trương Văn L không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét thêm; Về án phí: Chị Phan Thị X chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Chị Phan Thị X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trương Văn L và yêu cầu về giao nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn với anh Trương Văn L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm L, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Đối với bị đơn anh Trương Văn L có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh Trương Văn Lê .
[3] Về hôn nhân: Chị Phan Thị X và anh Trương Văn L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại UBND xã H, huyện Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân của chị X và anh Lê đảm b về điều kiện kết hôn và đúng nghi thức theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2022 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án chị X vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn, anh Trương Văn L cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần giải quyết cho chị Phan Thị X được ly hôn anh Trương Văn Lê .
[5] Về con: Nếu ly hôn, chị Phan Thị X và anh Trương Văn L đều có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu bên nuôi con cấp dưỡng nuôi con, thấy rằng: Căn cứ vào nguyện vọng của đương sự, xét hoàn cảnh, điều kiện để nuôi con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ nên cần giao Trương Thị Ngọc T, sinh ngày 05/02/2019 cho chị Phan Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 6 năm 2024 trở đi cho đến khi các con đủ 18 tuổi (trưởng thành) và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn L là hợp lý.
[6] Về tài sản: Chị Phan Thị X và anh Trương Văn L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[7] Về án phí: Chị Phan Thị X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị X được ly hôn anh Trương Văn Lê .
Về con: Buộc anh Trương Văn L giao con chung Trương Thị Ngọc T, sinh ngày 05/02/2019 cho chị Phan Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 06 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành). Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn Lê . Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị Phan Thị X phải chịu án phí DSST 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ trong số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị Phan Thị X đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006136 ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28 /06/ 2024. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Hợp; - Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp; - UBND xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Quán Vi Tuấn |