- Tranh chấp gì? án hình sự — "NVT - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. [2]. Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2026/HS-ST Ngày: 17/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hường
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Anh Tuấn
Bà Chu Thị Tuyết
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Cán bộ Toà án nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Mỹ Linh - Kiểm sát viên. Ngày 17/3/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân dân Khu vực 2 - Hà Nội Hà Nội xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2026/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo có lý lịch như sau:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; Tại: Ninh Bình; CCCD số 036079029239; Giới tính: Nam; HKTT: Xóm A xã X, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1953; Con bà: Vũ Thị T2, sinh năm 1950. Gia đình bị cáo có hai anh em. Bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Vợ: Không; Con: Có 01 con sinh năm 2004.
Nhân thân:
- Năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (cũ) ra Quyết định số 22 ngày 12/5/2023 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 22 tháng, chấp hành xong ngày 17/02/2025. Hiện đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số 36 ngày 20/2/2025 của UBND xã X trong thời hạn từ ngày 20/2/2025 đến ngày 20/2/2027.
- Năm 2013 bị UBND quận H (cũ) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại B, Hà Nội theo quyết định số 217 ngày 15/01/2013 (đã hết thời hiệu)
- Bản án số 316 ngày 30/8/2010 bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội (cũ) xử 25 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Đã nộp án phí, ra trại ngày 06/7/2012, đã được xóa án tích)
- Bản án số 10 ngày 26/02/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (cũ) xử 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Đã nộp án phí, ra trại ngày 13/8/2020, đã được xóa án tích)
Đầu thú ngày: 16/12/2025
Tạm giữ từ ngày: 17/12/2025; Tạm giam từ ngày: 25/12/2025
Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an T3. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác nắm bắt quản lý rà soát trên địa bàn, ngày 16/12/2025, Công an phường V, thành phố Hà Nội mời Nguyễn Văn T lên trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an, Nguyễn Văn T tự nguyện xin đầu thú và khai nhận trước đó đã sử dụng trái phép chất ma túy Heroin vào tối ngày 15/12/2025.
Công an phường V, thành phố Hà Nội đã tiến hành trưng cầu mẫu giám định nước tiểu của Nguyễn Văn T. Tại Bản kết luận giám định số 8862/KL-KTHS ngày 24/12/2025 của phòng K - Công an thành phố T3, kết luận:
“ Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T thu ngày 16/12/2025 có tìm thấy ma túy loại Morphine và 6-MAM (ma túy Morphine tìm thấy trong nước tiểu của Nguyễn Văn T có thể là chất chuyển háo của ma túy Heroin trong cơ thể người hoặc có thể sử dụng trực tiếp; 6-MAM là chất chuyển hóa của ma túy Heroin trong cơ thể người.”
Tại cơ quan Công an, Nguyễn Văn T khai nhận: Bản thân Thiện là con nghiện ma túy Heroin với tần suất 1 lần/ngày. Khoảng 16h30’ ngày 15/12/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Văn T đi tới khu vực gần trường Tiểu học V, phường V - Q, thành phố Hà Nội. Tại đây T gặp và mua của một người nam giới (không rõ nhân thân lai lịch) 01 gói giấy kích thước 5x5cm chứa ma túy Heroin với giá 200.000 đồng. T đưa tiền mặt cho người này rồi mang ma túy trên đến nhà vệ sinh công cộng đầu ngõ F T, phường V - Q để sử dụng.
Cơ quan điều tra xác minh tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Bình cho thấy Nguyễn Văn T đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định của Luật Phòng chống ma túy.
Cơ quan điều tra xác minh tại UBND xã X, Ninh Bình cho thấy Nguyễn Văn T là đối tượng thuộc diện quản lý người nghiện sau cai của UBND xã X, Ninh Bình từ ngày 20/02/2025 đến ngày 20/02/2027 quy định của Luật Phòng chống ma túy. Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn T ngày 15/12/2025, T khai không biết địa chỉ, nhân thân lai lịch của người này. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ xử lý. Tại bản cáo trạng số 231/CT-VKSKV2 ngày 13/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận việc bị truy tố về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 26 tháng đến 30 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Không. Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng:
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Cơ quan điều tra; Kiểm sát viên; Viện kiểm sát nhân Khu vực 2 - Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 16/12/2025, tại trụ sở Công an phường V, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T đầu thú về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của mình vào chiều ngày 15/12/2025 tại nhà vệ sinh công cộng đầu ngõ F T, phường V - Q, thành phố Hà Nội. Nguyễn Văn T hiện thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy của UBND xã X, tỉnh Ninh Bình theo quy định tại Luật phòng, chống ma tuý.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, làm gia tăng tệ nạn ma túy và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại của ma túy đến sức khỏe và đời sống của con người, bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo coi thường pháp luật nên đã vi phạm. Bản thân bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma túy từ nhiều năm trước, lần này bị cáo sử dụng ma tuý loại Morphine và 6-MAM.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình hội đồng xét xử có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hành vi đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
. Về hình phạt bổ sung: Không
. Về xử lý vật chứng: Không.
. Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn T, T khai không biết gì về nhân thân, lai lịch của đối tượng. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ xử lý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. [2]. Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025;
[3]. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 26 (hai mươi sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2025.
[4]. Những vấn đề khác: Không.
[5]. Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn T có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân thành phố Hà Nội; - VKSND Khu vực 2 - Hà Nội; - Công an phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, TP Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội ; - Phòng THADS Khu vực 2 - TP Hà Nội; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hường |