vanban.org

Bản án 104/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 18/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Đức G, Hoàng Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Hồ Đức G phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. [2] Xử phạt các bị cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Đức G, Hoàng Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/HS-ST
Ngày 18 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Huê.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 05 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/HSST-QĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Hồ Đức G, sinh năm 1992 tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố BL 2, phường TC, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Đức S và bà Chu Thúy H; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1992; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/5/2010, bị Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý xử phạt 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; ngày 18/02/2014, bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phúc thẩm xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2025 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

2. Hoàng Thị M, sinh năm 1994 tại Hà Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã PV, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Tổ 7, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H và bà Chu Thị H; có chồng là Phạm Đình D, sinh năm 1990; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28 tháng 7 năm 2015 bị Công an thành phố Phủ Lý xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2025 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1962; trú tại: Tổ 7, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

2/ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1992; trú tại: Tổ dân phố BL 2, phường TC, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người làm chứng: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1993; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 14/01/2025, Hoàng Thị M sử dụng điện thoại di động gọi qua ứng dụng Messenger đến tài khoản “G Uno” của Hồ Đức G hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy Ngựa để bán lại kiếm lời thì G đồng ý bán. M sử dụng internet banking trên điện thoại di động chuyển 3.000.000 đồng đến số tài khoản 107880982526 ngân hàng Viettinbank của Nguyễn Thị T là vợ của G. Sau đó, G lấy 60 viên ma túy Ngựa cho vào 02 túi nilon (mỗi túi 30 viên) rồi bỏ 02 túi nilon này cùng 01 mảnh giấy màu trắng dạng giấy vệ sinh vào 01 túi nilon (dạng túi thạch) hàn kín lại đem ra để ở vệ đường gần nhà G rồi chụp ảnh vị trí gói ma túy và gửi qua ứng dụng Messenger cho M biết để đến lấy. M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 90B2-734.53 đến vị trí G gửi thì thấy 01 gói nilon hàn kín. M cầm lên sờ thấy bên trong có nhiều viên nén, biết đây là gói ma túy của G nên cho vào trong túi giả da màu đen đeo trước ngực rồi điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường Nguyễn Thượng Hiền thuộc tổ dân phố Đọ Xá, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra còn xác định: Khoảng 16 giờ ngày 14/01/2025, tại nhà Hồ Đức G có Phạm Văn C đến chơi và ở lại nhà G từ mấy hôm trước. G đi từ tầng 01 lên vào gần chỗ C nằm và lấy ra 01 bình hút tự tạo là dụng cụ để sử dụng ma tuý ngựa do G chuẩn bị từ trước rồi cho 02 viên ma túy Ngựa lên mảnh giấy bạc dùng bật lửa hơ phía dưới cho ma túy Ngựa nóng lên và ngậm vào đầu ống nhựa gắn trên miệng vỏ chai để hút khói ma tuý vào cơ thể. Sau khi hút xong, G để chai nhựa xuống nền nhà thì C hỏi xin G cho sử dụng cùng. G đồng ý rồi cầm mảnh giấy bạc có ma túy Ngựa trên tay dùng bật lửa đốt hơ phía dưới, Cảnh tự cầm chai nhựa ngậm vào đầu ống hút lấy khói ma túy. G hơ, đốt ma túy Ngựa cho C sử dụng hai lần. Sau đó, G điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30A-191.75 chở C đi lấy xe mô tô của C, khi hai người đi đến ngã tư đường Nguyễn Viết Xuân giao nhau với đường Trường Chinh thuộc thành phố Phủ Lý thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Hà Nam yêu cầu về trụ sở làm việc.

* Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Hoàng Thị M: 01 túi giả da, màu đen, bên trong có 01 gói nilon hàn kín, kích thước khoảng (04x15)cm, có nhiều chữ (dạng gói thạch), bên trong gói nilon này có 02 túi nilon miệng có kẹp nhựa, viền màu đỏ, kích thước khoảng (04x06)cm mỗi túi đều có 30 viên nén màu đỏ và 01 mảnh giấy màu trắng (giấy vệ sinh). Cơ quan điều tra đã cho 60 viên nén màu đỏ vào 01 túi nilon miệng có kẹp nhựa, viền màu đỏ, kích thước khoảng (08x12)cm niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; cho vỏ gói nilon (dạng gói thạch), mảnh giấy màu trắng và 02 túi nilon nói trên vào 01 túi nilon miệng có kẹp nhựa, viền màu đỏ, kích thước khoảng (08x12)cm niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, có chữ Iphone bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0326280444 được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03; 01 Căn cước công dân mang tên Hoàng Thị M và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA BLADE, màu đỏ đen, đeo biển kiểm soát 90B2-734.53.

- Thu giữ của Hồ Đức G: 01 xe ô tô nhãn hiệu Civic màu xanh bạc, đeo biển kiểm soát: 30A-191.75 cùng giấy tờ xe; 01 điện thoại di động cảm ứng màu vàng bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0988605005.

* Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ Đức G tại tổ dân phố BL 2, phường TC, thành phố PL phát hiện, thu giữ:

- 01 túi nilon trong suốt có kích thước khoảng (05x07)cm, viền túi kẹp nhựa màu đỏ bên trong chứa 01 viên nén hình trụ màu đỏ, niêm phong trong phong bì ký hiệu KX01.

- 01 mảnh giấy bạc màu xám, không rõ hình thù, có kích thước (05x10)cm và 01 tẩu hút tự chế bằng tre được gắn với đầu ống nhựa (dạng ống bút bi) bằng băng dính màu đen, niêm phong trong phong bì ký hiệu KX02.

- 01 chai nhựa trong suốt, không có nắp đậy, chiều rộng phần đáy chai khoảng 06cm, phần miệng chai khoảng 02cm, chiều cao khoảng 15cm, trên thân trai có 01 lỗ thủng có đường kính khoảng 01cm, miệng chai được gắn vành nhựa màu đỏ; 01 đoạn ống nhựa màu xám có chiều dài khoảng 15cm, đường kính khoảng 02cm, mặt đầu ống nhựa màu xám được gắn với 01 đoạn ống nhựa màu trắng bằng băng dính màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX03.

Tại các bản kết luận giám định số 67, 68/KL-KTHS cùng ngày 21/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận:

“- Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 6,130g loại: Methamphetamine; Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu KX01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,098g loại: Methamphetamine; 01 mảnh giấy bạc màu trắng - xám, 01 tẩu hút tự chế trong phong bì ký hiệu KX02 gửi giám định có bám dính ma tuý loại: Methamphetamine; 01 đoạn ống hút, 01 vỏ chai nhựa màu trắng trong phong bì ký hiệu KX03 gửi giám định có bám dính ma tuý loại: Methamphetamine”.

“- Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu NT01, NT03, NT04 (Mẫu nước tiểu của Hồ Đức G, Hoàng Thị M và Phạm Văn C); Không tìm thấy chất ma tuý thường gặp (Heroine, Methamphetamine, Ketamine, MDMA…) trong mẫu nước tiểu NT02 gửi giám định (Mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị Thuý)”.

Tại Bản kết luận giám định số 439/KL-KTHS ngày 18/02/2025 của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an kết luận: “Trên bề mặt vỏ gói nilon (dạng gói thạch), mảnh giấy màu trắng (dạng giấy vệ sinh), hai túi nilon, miệng có kẹp nhựa, viền màu đỏ được bỏ trong một túi nilon có kẹp nhựa, viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02 có ADN người và có kiểu gen (ADN) trùng với kiểu gen (ADN) của mẫu niêm mạc ghi thu của Hồ Đức G”.

Kết quả kiểm tra, khai thác dữ liệu trên điện thoại thu giữ của Hồ Đức G và của Hoàng Thị M xác định:

- Trên điện thoại di động thu giữ của Hồ Đức G: Tại phần lịch sử cuộc gọi có cuộc gọi đến của tài khoản Mesenger “Hoàng My” vào hồi 13 giờ ngày 14/01/2025. Tại ứng dụng ngân hàng Viettinbank số tài khoản 107880982526 mang tên Nguyen Thi Thuy: Trong mục biến động số dư thể hiện tài khoản Hoang Thi My chuyển đến số tiền 3.000.000 đồng vào hồi 12 giờ 49 phút ngày 14/01/2025. Ngoài ra không phát hiện nội dung nào liên quan đến vụ án.

- Trên điện thoại di động thu giữ của Hoàng Thị M: Trong ứng dụng Messenger, tài khoản “Hoàng My” của M có liên hệ nhắn tin với tài khoản “G Uno” của G trong đó có các tin nhắn của M và những tin nhắn của G đã thu hồi. Trong ứng dụng Zalo, tài khoản “Myner” số điện thoại liên kết 0326280444 của M có liên lạc với tài khoản “Lê Văn Thắng” vào hồi 13 giờ 22 phút ngày 14/01/2025; M khai đây là tài khoản của Lê Văn Thắng - sinh năm 2000, trú tại thôn Lau Chảy, xã Liêm Thuận, huyện thanh Liêm gọi đến hỏi mua ma tuý của M. Trong ứng dụng ngân hàng Techcombank, số tài khoản 19030577520019 của M có nhiều giao dịch, trong đó có lịch sử chuyển tiền từ số tài khoản 8890312415 mang tên Nguyen Hong Quang đến cho M số tiền 2.000.000 đồng vào hồi 12 giờ 14 phút ngày 14/01/2025; M khai đây là số tiền Lê Văn Thắng trả để mua ma tuý của M; lịch sử giao dịch M chuyển vào tài khoản Nguyen Thi Thuy số tiền 3.000.000 đồng vào hồi 12 giờ 49 phút ngày 14/01/2025.

* Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSHN-P1 ngày 29/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố: Bị cáo Hồ Đức G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị M về tội“Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Hồ Đức G); điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Hoàng Thị M); Đề nghị xử phạt các bị cáo:

Hồ Đức G từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Hồ Đức G phải chấp hành hình phạt của cả hai tội từ 09 năm 06 tháng tù đến 10 năm 06 tháng tù.

Hoàng Thị M từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng Điều 35; khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự: Phạt các bị cáo Hồ Đức G, Hoàng Thị M mỗi bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đề nghị trả lại Hoàng Thị M 01 túi giả da màu đen và 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Thị M.

Đề nghị trả ông Hoàng Văn Hiệp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA BLADE, màu đỏ đen, đeo biển kiểm soát 90B2-734.53.

Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, có chữ Iphone của Hoàng Thị M.

Đề nghị trả lại chị Nguyễn Thị T 01 điện thoại di động cảm ứng màu vàng.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Hoàng Thị M và Hồ Đức G cùng bao gói được hoàn trả sau giám định; 01 vỏ gói nilon (dạng gói thạch), mảnh giấy màu trắng và 02 túi nilon; 01 mảnh giấy bạc màu xám và 01 tẩu hút tự chế bằng tre được gắn với đầu ống nhựa (dạng ống bút bi) bằng băng dính màu đen, niêm phong trong phong bì ký hiệu KX02; 01 chai nhựa trong suốt, không có nắp đậy, chiều rộng phần đáy chai khoảng 06cm, phần miệng chai khoảng 02cm, chiều cao khoảng 15cm, trên thân trai có 01 lỗ thủng có đường kính khoảng 01cm, miệng chai được gắn vành nhựa màu đỏ; 01 đoạn ống nhựa màu xám có chiều dài khoảng 15cm, đường kính khoảng 02cm, mặt đầu ống nhựa màu xám được gắn với 01 đoạn ống nhựa màu trắng.

- Về truy thu số tiền thu lời bất chính: Đề nghị truy thu của Hồ Đức G số tiền 3.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước; truy thu của Hoàng Thị M số tiền 2.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Hồ Đức G, Hoàng Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa về hành vi phạm tội, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị T có quan điểm: Đối với số tài khoản mang tên chị, chị đã không sử dụng từ lâu và ai là người sử dụng thì chị không biết. Còn đối với 01 điện thoại di động cảm ứng màu vàng là của chị, chị cho bị cáo G (là chồng chị) mượn để sử dụng, nay chị đề nghị được xin lại chiếc điện thoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hoàng Văn H và người làm chứng anh Phạm Văn C vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành điều tra theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã nêu. Lời khai của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 13 giờ ngày 14/01/2025, tại tổ dân phố Bảo Lộc 2, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Hồ Đức G đã bán trái phép cho Hoàng Thị M 60 viên ma tuý ngựa, tổng khối lượng 6,130 gam ma túy loại Methamphetamine với giá 3.000.000 đồng. Khi Hoàng Thị M mang số ma tuý vừa mua của G đi đến khu vực đường Nguyễn Thượng Hiền thuộc tổ dân phố Đọ Xá, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý để về nhà nhằm mục đích bán lại cho đối tượng khác thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, tại nhà riêng thuộc tổ dân phố Bảo Lộc 2, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, Hồ Đức G lấy 02 viên ma tuý ngựa cho lên mảnh giấy bạc, dùng bật lửa hơ phía dưới cho ma túy nóng lên và hút khói ma tuý vào cơ thể của mình thông qua bình tự tạo mà G đã chuẩn bị từ trước, sau đó trực tiếp cầm bật lửa hơ nóng giấy bạc giúp cho Phạm Văn C cùng sử dụng trái phép chất ma tuý.

Hành vi của bị cáo Hồ Đức G đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Hoàng Thị M đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp pháp luật.

Đánh giá về vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy: Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Hồ Đức G bán ma túy cho Hoàng Thị M, tuy nhiên giữ G và M không bàn bạc, trao đổi, thỏa thuận với nhau về mục đích sử dụng số ma túy G bán cho M, nên hành vi phạm tội của Hồ Đức G và Hoàng Thị M không đồng phạm mà có vai trò độc lập với nhau trong vụ án.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

* Về nhân thân: Các bị cáo G và M đều là những người có nhân thân xấu. Bị cáo Hồ Đức G đã từng bị kết tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hai lần đến nay đã được xóa án tích; bị cáo Hoàng Thị M đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến nay đã được xóa, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng về ma túy thể hiện sự coi thường pháp luật, khó cải tạo bản thân. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

* Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào.

* Về tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo Hồ Đức G và Hoàng Thị M đều thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bị cáo Hồ Đức G có mẹ đẻ được tặng Kỷ niệm chương thanh niên xung phong, bà nội bị cáo G là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bị cáo Hoàng Thị M có ông nội có công với cách mạng, được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến. Do vậy, các bị cáo Hồ Đức G, Hoàng Thị M đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đánh giá về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, các tội phạm khác. Hành vi đó còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn trật tự xã hội, gây bức xúc trong dư luận và cộng đồng xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội của các bị cáo là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục đối với chính các bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.

Bị cáo Hồ Đức G phạm hai tội nên cần tổng hợp hình phạt của cả hai tội theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

- Hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội nhằm mục đích trục lợi cho bản thân nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 35; khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng và các tài sản đã thu giữ:

- Đối với 01 túi giả da màu đen và 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Thị M là vật dụng, giấy tờ của Hoàng Thị M không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho Hoàng Thị M. Tuy nhiên, đối với căn cước công dân của M cần giao cho Cơ quan thi hành án phạt tù nơi bị cáo chấp hành án tạm giữ để trả lại bị cáo khi bị cáo M chấp hành xong hình phạt tù.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA BLADE, màu đỏ đen, đeo biển kiểm soát 90B2-734.53 là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Hoàng Văn H (bố bị cáo M), ông H cho Hoàng Thị M sử dụng nhưng không biết M sử dụng để đi mua ma túy. Do vậy cần trả lại xe mô tô cho ông Hoàng Văn H.

- Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, có chữ Iphone của Hoàng Thị M, M đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng màu vàng thu giữ của Hồ Đức G là tài sản của chị Nguyễn Thị T, chị T cho G mượn để sử dụng nhưng không biết G thực hiện hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị T.

- Đối với toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định cùng bào gói thu giữ của Hoàng Thị M và Hồ Đức G cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 vỏ gói nilon (dạng gói thạch); mảnh giấy màu trắng; 02 túi nilon; 01 mảnh giấy bạc màu xám; 01 tẩu hút tự chế bằng tre được gắn với đầu ống nhựa (dạng ống bút bi) bằng băng dính màu đen; 01 chai nhựa trong suốt, không có nắp đậy, chiều rộng phần đáy chai khoảng 06cm, phần miệng chai khoảng 02cm, chiều cao khoảng 15cm, trên thân chai có 01 lỗ thủng có đường kính khoảng 01cm, miệng chai được gắn vành nhựa màu đỏ; 01 đoạn ống nhựa màu xám có chiều dài khoảng 15cm, đường kính khoảng 02cm, mặt đầu ống nhựa màu xám được gắn với 01 đoạn ống nhựa màu trắng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic màu xanh bạc, biển kiểm soát: 30A-191.75 và giấy tờ liên quan đến xe là tài sản, giấy tờ hợp pháp của Hồ Đức G không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T (vợ bị cáo) là người đại diện theo uỷ quyền của G là phù hợp pháp luật.

Về truy thu số tiền thu lời bất chính:

- Đối với số tiền 3.000.000 đồng Hoàng Thị M trả cho Hồ Đức G là tiền mua ma túy của G cần truy thu số tiền này sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 2.000.000 đồng mà người mua ma túy chuyển vào tài khoản của Hoàng Thị M để mua ma túy của M, nhưng M chưa đưa ma túy thì đã bị bắt. Tại phiên tòa, M xác định số tiền 2.000.000 đồng là tiền bán ma túy và tự nguyện giao nộp lại số tiền nên cần truy thu số tiền 2.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Về tình tiết khác của vụ án:

- Về nguồn gốc số ma tuý Hồ Đức G bán cho Hoàng Thị M và tổ chức cho Phạm Văn C sử dụng, Hồ Đức G khai mua của một người đàn ông không quen biết gặp tại khu vực cầu Châu Sơn thuộc phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý. Cơ quan Công an đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người đã bán ma túy cho G. Ngoài lời khai của G không còn tài liệu nào khác, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

- Đối với Phạm Văn C đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của Hồ Đức G, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính “Cảnh cáo” đối với C là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với chị Nguyễn Thị T là người đứng tên tài khoản số 107880982526 ngân hàng Viettinbank, tuy nhiên chị T đã chuyển cho G quản lý, sử dụng tài khoản mà không biết, không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma tuý của G nên không có căn cứ để xử lý Nguyễn Thị T trong vụ án này là phù hợp quy định của pháp luật.

- Đối với Lê Văn Thắng theo Hoàng Thị M khai là người hỏi mua 30 viên ma tuý ngựa (Methamphetamine) và đã chuyển khoản cho M 2.000.000 đồng vào ngày 14/01/2025. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47; Điều 35; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự (đối với Hồ Đức G).

Căn cứ: điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47; Điều 35 của Bộ luật Hình sự (đối với Hoàng Thị M).

Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Đức G, Hoàng Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Hồ Đức G phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt các bị cáo:

- Hồ Đức G 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc Hồ Đức G phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 01 năm 2025.

- Hoàng Thị M 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 01 năm 2025.

[3] Hình phạt bổ sung: Phạt các bị cáo Hồ Đức G, Hoàng Thị M mỗi bị cáo 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

[4] Xử lý vật chứng và các tài sản đã thu giữ:

- Trả lại Hoàng Thị M 01 túi giả da màu đen và 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Thị M, nhưng căn cước công dân của M giao cho Cơ quan thi hành án phạt tù nơi bị cáo chấp hành án tạm giữ để trả lại bị cáo khi bị cáo M chấp hành xong hình phạt tù.

- Trả lại ông Hoàng Văn H 01(một) xe máy nhãn hiệu BLADE, màu đỏ đen, đeo biển kiểm soát 90B2-734.53, số khung: RLHJA3G51GY109861, số máy: JA36E-0584927.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, có chữ Iphone, số IMEI: 353103105367093, bên trong lắp 01 sim Viettell.

- Trả lại chị Nguyễn Thị T 01 điện thoại di động cảm ứng màu vàng, số IMEI: 356415758271357, bên trong lắp 01 sim Viettell.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 67/KTHS mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả QT01; 01 (một) phong bì niêm phong số 67/KTHS mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả KX01; 01 (một) phong bì niêm phong số 67/KTHS mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả KX02; 01 (một) phong bì niêm phong số 67/KTHS mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả KX03; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt sau phong bì có hai chữ ký và họ tên của Phạm Xuân Cương và Nguyễn Thanh Hải.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao, nhận vật chứng và biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập ngày 10/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).

[5] Truy thu số tiền thu lời bất chính:

- Truy thu của Hồ Đức G số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

- Truy thu của Hoàng Thị M số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Hồ Đức G, Hoàng Thị M, mỗi bị cáo phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ