- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa anh Đỗ Mạnh T và chị Phạm Đức N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Mạnh T:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Luật Hôn nhân và gia đình
| a TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 6 - 2025 V/v ly hôn và tranh chấp về con chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY N - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Mến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đắc Hân.
Bà Nguyễn Thị Lương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủy N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ N tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuỷ N xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 76/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- N đơn: Anh Đỗ Mạnh T; nơi cư trú: Thôn 8 (khu vực L), xã L, thành phố Thuỷ N, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Phạm Đức N; nơi cư trú: Thôn 8 (khu vực L), xã L, thành phố Thuỷ N, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện; bản tự khai cùng các lời khai tại Tòa án, N đơn anh Đỗ Mạnh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Đức N kết hôn với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L (nay là xã L), vào ngày 31 tháng 10 năm 2005. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, N nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi mắng xúc phạm lẫn nhau, do mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi và năm 2009 hai bên đã thống nhất thuận tình ly hôn. Sau đó một thời gian lại về đoàn tụ và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã L (nay là xã L) ngày 30/7/2019, cuộc sống chung vợ chồng cũng chỉ được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và căng thẳng, do mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm nhau từ năm 2020 đến nay. Chị N cùng con đã bỏ ra ngoài sinh sống không về. Để giải phóng cho nhau anh T đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn chị Phạm Đức N.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Mạnh D, sinh ngày 20/11/2005 và Đỗ Phương T, sinh ngày 02/3/2020. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cả hai con chung sống cùng chị N, khi ly hôn anh T đề nghị Toà án xem xét giải quyết về con chung như sau: Con chung tên Đỗ Mạnh D hiện nay đã trưởng thành trên 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết, con chung tên Đỗ Phương T còn nhỏ lại là con gái nên anh T đề nghị Toà án giải quyết để chị N tiếp tục nuôi con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để anh T và chị N tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Đỗ Mạnh T và chị Phạm Đức N không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn chị Phạm Đức N, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 8, khu vực L, xã L, thành phố Thuỷ N, thành phố Hải Phòng cho đến thời điểm hiện nay chị N vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ nói trên và đã biết việc anh T có đơn yêu cầu xin ly hôn, con chung khi ly hôn, tuy nhiên Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, song chị Phạm Đức N đều không hợp tác đến Tòa án làm việc, Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, chị Phạm Đức N đã biết nhưng không đến Toà án để làm việc, do vậy Toà án tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định về ra Thông báo thụ lý vụ án, bảo đảm về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, việc giao nộp và yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, xác minh, cấp tống đạt và tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án, N đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn là anh Đỗ Mạnh T và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đỗ Mạnh T được ly hôn chị Phạm Đức N.
- Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Phương T, sinh ngày 02/3/2020, cho chị Phạm Đức N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung tên Đỗ Mạnh D, sinh ngày 20/11/2005 hiện nay đã trưởng thành trên 18 tuổi anh Đỗ Mạnh T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đỗ Mạnh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phạm Đức N mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 7/2025 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Phạm Đức N (người được thi hành án) đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi thi hành án xong, anh Đỗ Mạnh T (bên thi hành án) chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì anh Đỗ Mạnh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ T hợp pháp luật có quy định khác.
- Về tài sản chung: Anh Đỗ Mạnh T trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án, bị đơn chị Phạm Đức N vắng mặt không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên không đề cập giải quyết.
- Về án phí: N đơn, anh Đỗ Mạnh T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết
Anh Đỗ Mạnh T có đơn xin ly hôn với chị Phạm Đức N. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Phạm Đức N, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 8, khu vực L, xã L, thành phố Thuỷ N, thành phố Hải Phòng cho đến thời điểm hiện nay chị Phạm Đức N vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ nói trên. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủy N, thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự
N đơn anh Đỗ Mạnh T vắng mặt có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt. Bị đơn chị Phạm Đức N đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân
Xét, quan hệ hôn nhân giữa anh Đỗ Mạnh T và chị Phạm Đức N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L (nay là xã L), thành phố Thủy N, thành phố Hải Phòng, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60/2005, ngày 31 tháng 10 năm 2005, quá trình chung sống vì lý do mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được nên năm 2009 anh Đỗ Mạnh T và chị Phạm Đức N đã được Toà án nhân dân huyện Thuỷ N (nay là thành phố Thuỷ N) giải quyết Công nhận thuận tình ly hôn tại Quyết định số 130/2009/QĐST-HNGĐ, ngày 05/8/2009; về con chung hai bên thoả thuận chị Phạm Đức N nuôi con chung tên Đỗ Mạnh D, sinh ngày 20/11/2005. Sau khi ly hôn cho đến năm 2019 hai vợ chồng tiếp tục về đoàn tụ và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2019, ngày 30 tháng 7 năm 2019 do vậy hôn nhân giữa anh Đỗ Mạnh T và chị Phạm Đức N là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L thể hiện: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị N có tồn tại N nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau không có tiếng nói chung trong việc nuôi dạy, chăm sóc con chung. Do mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi không còn quan tâm nhau. Hội đồng xét xử, xét trong cuộc sống hôn nhân giữa vợ và chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ chồng có nghĩa vụ chung sống cùng nhau để chăm lo gia đình, chăm sóc các con. Tuy nhiên, thực tế do mâu thuẫn nên anh T và chị N đã không còn chung sống cùng nhau từ năm 2022 cho đến nay. Chị Phạm Đức N đã biết việc anh Đỗ Mạnh T làm đơn xin ly hôn song không hợp tác đến Tòa án làm việc, Toà án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị Phạm Đức N tuy nhiên chị N vẫn không hợp tác đến Toà án. Điều đó thể hiện hôn nhân giữa anh T và chị N là có tồn tại mâu thuẫn, đồng thời thể hiện chị N không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Điều đó càng chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đỗ Mạnh T, cho anh Đỗ Mạnh T được ly hôn chị Phạm Đức N.
Về con chung
Anh Đỗ Mạnh T và chị Phạm Đức N trong quá trình chung sống vợ chồng sinh được 02 con chung được đăng ký khai sinh hợp pháp tên: Đỗ Mạnh D, sinh ngày 20/11/2005 và Đỗ Phương T, sinh ngày 02/3/2020. Hiện nay con chung tên Đỗ Mạnh D đã trưởng thành trên 18 tuổi và có khả năng lao động, anh Đỗ Mạnh T không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Con chung tên Đỗ Phương T, sinh ngày 02/3/2020 kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay do chị Phạm Đức Nguyễn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn do điều kiện công việc anh T thường phải đi làm xa, con chung là con gái nên cần có sự chăm sóc của mẹ nên anh T đề nghị Toà án giải quyết giao con chung cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và anh sẽ có trách nhiệm tự nguyện chu cấp tiền nuôi con chung cùng chị N để đảm bảo việc nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Bị đơn chị Phạm Đức N vắng mặt không hợp tác đến Toà án trình bày quan điểm ý kiến về việc nuôi con chung cũng như cấp dưỡng nuôi con chung. Tài liệu, chứng cứ thể hiện: Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị Phạm Đức N nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo tốt mọi mặt để ổn định cuộc sống của con chung. Hội đồng xét xử quyết định giao con chung Đỗ Phương T, sinh ngày 02/3/2020 cho chị Phạm Đức N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đỗ Mạnh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phạm Đức N mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 7/2025 cho con đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung
Anh Đỗ Mạnh T trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn chị Phạm Đức N vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án chưa có lời khai của chị Phạm Đức N về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, anh Đỗ Mạnh T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, 228, của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 27,Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Mạnh T:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đỗ Mạnh T được ly hôn chị Phạm Đức N.
2. Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Phương T, sinh ngày 02/3/2020, cho chị Phạm Đức N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung tên Đỗ Mạnh D, sinh ngày 20/11/2005 hiện nay đã trưởng thành trên 18 tuổi anh Đỗ Mạnh T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đỗ Mạnh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phạm Đức N mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 7/2025 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Phạm Đức N (người được thi hành án) đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi thi hành án xong, anh Đỗ Mạnh T (bên thi hành án) chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì anh Đỗ Mạnh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ T hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Anh Đỗ Mạnh T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp ghi tại biên lai thu số 0010777, ngày 17/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy N, thành phố Hải Phòng. Anh Đỗ Mạnh T còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
6. Về quyền kháng cáo:
N đơn anh Đỗ Mạnh T và bị đơn chị Phạm Đức N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
T hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP Hải Phòng;
- VKSND thành phố Thuỷ N;
- Chi cục THADS thành phố Thuỷ N;
- UBND xã L, TP. Thủy N;
- Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.
Đinh Thị Mến THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đắc Hân Nguyễn Thị Lương
Đinh Thị Mến
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND thành phố Thuỷ N; - Chi cục THADS thành phố Thuỷ N; - UBND phường Thiên Hương, TP. Thủy N; - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Đức CảnhNguyễn Thị Lương TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ phút, ngày 30 tháng 9 năm 2024 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy N, thành phố Hải Phòng. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Đinh Thị Mến. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lương. 2. Ông Hoàng Đức Cảnh. 8 năm năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, giữa các đương sự: Lãng, thành phố Hải Phòng. Đức, huyện Thủy N, thành phố Hải Phòng. phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3 - Về nội dung vụ án: Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. [2] Về con chung: Minh, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2013 và Đỗ Ngọc Linh, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2018 đến khi các con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ T hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. Hội đồng xét xử không xem xét. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. không xem xét. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. [5] Về án phí miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0010048 ngày 08/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy N), chị Vũ Thị Huệ đã nộp đủ án phí. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. [6] Về quyền kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, cùng ngày. cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Đức Cảnh Nguyễn Thị Lương TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG BIÊN BẢN THẢO LUẬN Vào hồi giờ phút, ngày 23 tháng 9 năm 2024 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy N, thành phố Hải Phòng Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Đinh Thị Mến Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Đức Cảnh 2. Bà Nguyễn Thị Lương số 250/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, giữa các đương sự: Lãng, thành phố Hải Phòng. Đức, huyện Thủy N, thành phố Hải Phòng. - Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3. - Về nội dung: Hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm nêu trên. vào hồi giờ phút ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Thủy N thành phố Hải Phòng. Kết quả biểu quyết: 3/3. Thảo luận kết thúc vào hồi giờ phút, cùng ngày cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Đức CảnhNguyễn Thị Lương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mến THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mến CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 250/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng - N đơn: Chị Vũ Thị Huệ; nơi cư trú: Thôn Bắc Phong, xã Kiến Thiết, huyện Tiên - Bị đơn: Anh Đỗ Trọng Thanh; nơi cư trú: Tổ dân phố Quyết Hùng, thị trấn Minh Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quá tranh tụng tại -Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, [1] Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị Huệđược ly hôn với anh Đỗ Trọng Thanh. Giao cho chị Vũ Thị Huệ trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Đỗ Nhật Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom [3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên [4]Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, Chị Vũ Thị Huệ phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với số Chị Vũ Thị Huệ, anh Đỗ Trọng Thanhcó quyền kháng cáo bản án trong thời hạn Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mến CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành thảo luận về sự vắng mặt của đương sự trong vụ án dân sự thụ lý - N đơn: Chị Vũ Thị Huệ; nơi cư trú: Thôn Bắc Phong, xã Kiến Thiết, huyện Tiên - Bị đơn: Anh Đỗ Trọng Thanh; nơi cư trú: Tổ dân phố Quyết Hùng, thị trấn Minh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Thời gian mở lại phiên toà được ấn định như sau: Phiên tòa dân sự sẽ được mở Biên bản thảo luận đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mến |