- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Thị Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng Thị T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số:104/2024/HSST Ngày 13/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Quỳnh
2. Bà Phạm Thị Thanh Hương
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Minh T - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ.
- Đại diện VKSND Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 13/5/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/HSST ngày 05/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXX-HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng Thị T. Tên gọi khác: Không Sinh năm 1970. Tại tỉnh Điện Biên. Nơi ĐKHKTT: Bản H 2, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên Nơi cư trú: Bản N, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; Con ông: Giàng A C(đã chết); Con bà: Thào Thị P ( đã chết) ; Gia đình bị cáo có 7 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Bị cáo có chồng: Hảng A C; có 05 người con; Tiền sự: Không. Tiền án: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa xét xử.
Bị cáo bị bắt tạm giữ trong vụ án này ngày 05/01/2024, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Thào A A, sinh năm 1996 Trú tại xã Mường Báng, huyện T, tỉnh Điện Biên. ( có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 ngày 04/01/2024, T đi nhặt rác tại khu vực bãi rác gần bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên thì gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine với giá 50.000đ, được gói bằng mảnh nilon màu trắng. Sau đó T đem theo gói Heroine vừa mua được về phòng trọ tại bản N, phường N, thành phố Đ rồi chia gói Heroine vừa mua được thành 03 gói nhỏ, gói lại thành 01 gói bằng mảnh nilon từ vỏ gói ban đầu được xé ra, tiếp đó dùng 01 mảnh giấy màu trắng để gói bên ngoài. Hồi 08 giờ 10 phút ngày 05/01/2024, khi Trừ đang đi bộ tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ 10, phường phường Noong Bua, thành phố Đ, thì bị tổ công tác Công an thành phố Đ kiểm tra, Tr tự giác giao nộp gói Heroine
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 05/01/2024 đã xác định: Cục bột thể rắn màu trắng đục nghi Heroine trong gói số 01 thu giữ khi bắt quả tang của Giàng Thị T có khối lượng là 0,14 gam (ký hiệu H1) gửi toàn bộ giám định.
- Cục bột thể rắn màu trắng đục nghi Heroine trong gói số 02 thu giữ khi bắt quả tang của Giàng Thị T có khối lượng là 0,09 gam (ký hiệu H2) gửi toàn bộ giám định.
- Cục bột thể rắn màu trắng đục nghi Heroine trong gói số 03 thu giữ khi bắt quả tang của Giàng Thị T có khối lượng là 0,11 gam (ký hiệu H3) gửi toàn bộ giám định. Tổng khối lượng vật chứng là 0,34gam.
Tại bản kết luận giám định số 196KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ đã kết luận:
Mẫu vật chứng ký hiệu H1, H2, H3 có khối lượng 0,34 gam thu giữ của Giàng Thị T gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định.
Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSTPĐBP ngày 05/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Giàng Thị T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trừ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249/ BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS
Xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 17 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án đề nghị xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND thành phố Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 08 giờ 10 phút ngày 05/01/2024 tại khu vực tổ 10, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, Giàng Thị T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,34 gam Heroine trên người đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy có được là do mua của một người đàn ông không quen biết tên tại khu vực bãi rác gần Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ với giá 50.000đ sau khi mua được T đem về chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng là 0,34 gam Heroine.
Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Từ những chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ 0,34 gam Heroine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS
C¸o tr¹ng cña VKSND thành phố Điện B ®· truy tè bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. BÞ c¸o cã ®Çy đủ n¨ng lùc ®Ó chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tr íc ph¸p luËt vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh ®· g©y ra.
. XÐt tÝnh chÊt møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o th× hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma túy lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng lµm ¶nh h ëng ®Õn trËt tù trÞ an, an toàn x· héi. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tuý. BÞ c¸o nhËn thøc ® îc t¸c h¹i cña ma tuý, nhËn thøc ® îc hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ vi ph¹m ph¸p luËt. Song vì nhu cầu của bản thân bÞ c¸o ®· bÊt chÊp vµ cè t×nh vi ph¹m. Nªn cÇn ph¶i xö lý bị cáo nghiêm minh theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
. Xét về nhân thân HĐXX thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cai nghiện cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của VKS là phù hợp HĐXX chấp nhận.
. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. XÐt kinh tÕ bÞ c¸o khã kh¨n, bản thân lại nghiện chất ma tuý, gia đình thuộc hộ nghèo. Nªn kh«ng cã ®iÒu kiÖn ®Ó thi hµnh. Héi ®ång xÐt xö kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo do không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.
. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.
. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.
Tịch thu tiêu huỷ 0,16 gam Heroine được hoàn lại sau giám định và 01 mảnh giấy màu trắng 04 mảnh nilon màu trắng.
. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo có hộ khẩu thường trú tại xã đặc biệt khó khăn thuộc diện miễn án phí. Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 bị cáo được miễn toàn bộ án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS
1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng Thị T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt bị cáo Giàng Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 05/01/2024)
3. Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ 0,16 gam Heroine được hoàn lại sau giám định và 01mảnh giấy màu trắng 04 mảnh nilon màu trắng.
(Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ vào ngày 09/4/2024 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận).
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Giàng Thị T được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/5/2024).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - VKSND tỉnh Đ - VKSND TPĐiện B; - Cơ quan CSĐTA TP Đ; - Bộ phận HNV- CATP Đ - Sở TP tỉnh Điện Biên; - CCTHADS TP Đ; - HSTHA hình sự: - Bị cáo; Lưu HS; - Lưu./ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạc Thị Liên |