- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Cẩm A ly hôn Ông Nguyễn Trường A"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm A.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-12-2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Ngọc Dình.
2. Ông Đặng Văn Bé.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Long An.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Long An đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Bà Nguyễn Thị Cẩm A, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Số 148/9 ấp Đồng Tre, xã Z, huyện Y, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trường A, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Số 288/4 ấp Bình Thủy, xã X, huyện Y, tỉnh Long An.
(Bà A và ông A vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/9/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm A trình bày: Bà và ông Nguyễn Trường A chung sống với nhau từ năm 2020 đăng ký kết hôn vào năm 2021 tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Long An.
Bà và ông A chung sống hạnh phúc được 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống không hợp nhau, thường xuyên cải vã. Hiện nay bà và ông A không còn sống chung với nhau từ tháng 7/2024 cho đến nay.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà quyết định xin ly hôn với ông Nguyễn Trường A.
Về con chung: Có 01 đứa con tên Nguyễn Thị Cẩm Tiên, sinh ngày 23/05/2021 hiện đang sống cùng ông A. Nếu được ly hôn bà xin giao con Nguyễn Thị Cẩm Tiên cho ông A nuôi dưỡng, bà xin không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Cam kết không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Cam kết không có.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Trường An đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt và không thể hiện ý kiến.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm: Trích lục kết hôn, bản tự khai, căn cước công dân, phiếu đề nghị xác minh tình trạng nơi cư trú, đơn xin ly hôn, giấy khai sinh và các tài liệu khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Bà Nguyễn Thị Cẩm A khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trường A nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Long An thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Ông Nguyễn Trường A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; đồng thời bà A có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bà A, ông A.
Về nội dung tranh chấp:
Theo Trích lục kết hôn số 45/TLKH-BS ngày 06/3/2023 của Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Long An thì bà Nguyễn Thị Cẩm A và ông Nguyễn Trường A là vợ chồng hợp pháp.
Theo hồ sơ thể hiện, nguyên đơn cho rằng, nguyên nhân mâu thuẫn là hai vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, không còn quan tâm nhau, tình cảm không thể hàn gắn trở lại nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trường A. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục theo quy định để tống đạt các văn bản tố tụng và thông báo cho ông A biết về yêu cầu ly hôn của bà A. Tuy nhiên, ông A không đến Tòa án làm việc, hòa giải, không thể hiện ý kiến về các vấn đề liên quan đến vụ án ly hôn. Điều này chứng tỏ ông A không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với bà A; từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở đánh giá, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông A đã ".... lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A.
Về con chung: Theo Giấy khai sinh số 280/2021 ngày 06/3/2023 của Ủy ban nhân dân xã Z, huyện Y, tỉnh Long An thì cháu Nguyễn Thị Cẩm Tiên là con của bà A và ông A. Tại đơn khởi kiện, bà A cho rằng cháu Tiên đang sống cùng ông A và đồng ý để cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tiên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về cấp dưỡng: Không ai đưa ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà A trình bày là không có; đồng thời không có người yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ đó thấy rằng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Cẩm A phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm A.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm A được ly hôn với ông Nguyễn Trường A.
[2] Về con chung: Ông Nguyễn Trường A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Cẩm Tiên, sinh ngày 23/5/2021.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[3] Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm A phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ 300.000 đồng mà bà A đã tạm nộp theo biên lai thu số 0009144 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Long An.
[7] Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Y, tỉnh Long An; - Chi cục THADS huyện Y, tỉnh Long An; - UBND xã X, huyện Y, tỉnh Long An; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Cảnh |