vanban.org

Bản án 104/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (JIVF) “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Thanh C.

Buộc ông Nguyễn Thanh C có nghĩa vụ trả cho Công ty T1 (JIVF) số tiền vay gốc là 10.366.132 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay, tạm tính đến ngày nay 01-8-2024, lãi trong hạn là 4.415.254 đồng, lãi quá hạn 1.731.506 đồng, phí quản lý khoản vay là 96.000 đồng, cộng các khoản gốc, lãi, phí l…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty T tín dụng Nguyễn Thanh C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (JIVF) “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Thanh C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/DS-ST
Ngày 01-8-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị An.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vương Văn Mum

Ông Nguyễn Xuân Lãm

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 309/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T1 (JIVF); địa chỉ: Lầu A, Tòa nhà C, 7 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông TANIGUCHI NOBORU - Tổng Giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: bà Trần Việt N - Phó Bộ phận Quản lý Công nợ. Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Nguyễn Thanh T - Nhân viên JIVF; sinh năm 1992; địa chỉ: số A, ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (theo Giấy uỷ quyền số 753/2023, ngày 20-11-2023), (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: ông Nguyễn Thanh C, sinh năm: 1983; địa chỉ: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26-10-2023, bản tự khai ngày 23-11-2023, qua làm việc người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày:

Vào ngày 30-01-2023, ông Nguyễn Thanh C có ký hợp đồng với Công ty T1 (JIVF) để vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn 18 tháng, lãi suất 4,35%/tháng, lãi quá hạn là 150% lãi trong hạn là 6,525%/tháng, vay tín chấp, mục đích vay mua sản phẩm nội thất gia đình và mua bảo hiểm, hình thức trả dần mỗi tháng tiền gốc, lãi là 1.637.137 đồng. Sau khi vay từ ngày 28-02-2023 đến ngày 15-7-2024 ông C có trả được tiền gốc là 9.633.868 đồng, tiền lãi trong hạn là 7.350.224 đồng, lãi quá hạn là 632.149 đồng, phí quản lý là 120.000 đồng, tổng cộng là 17.736.241 đồng. Do cuối năm 2023 ông Cao n không trả nợ đúng hạn, nên Công ty khởi kiện. Sau khi kiện ông C có trả thêm đến nay nhưng không đúng theo hợp đồng. Hiện ông C còn nợ Công ty J số tiền gốc là 10.366.132 đồng và tiền lãi theo hợp đồng.

Nay yêu cầu ông Nguyễn Thanh C phải thanh toán cho Công ty J số tiền vay là 10.366.132 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đã ký tạm tính đến ngày nay 01-8-2024, lãi trong hạn là 4.415.254 đồng, lãi quá hạn 1.731.506 đồng, phí quản lý khoản vay là 96.000 đồng, cộng các khoản gốc, lãi, phí là 16.608.892 đồng. Ngoài ra yêu cầu ông C phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn, phí theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên. Ngoài ra không ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

- Bị đơn ông Nguyễn Thanh C đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, triệu tập tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cũng như tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng, ngày 31-7-2024 ông T có đơn xin vắng mặt có lý do; bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, làm kéo dài thời hạn giải quyết án, là chưa chấp hành theo quy định của pháp luật. Đề nghị xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 90, 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 Jaccs “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Thanh C. Buộc ông C có nghĩa vụ trả cho Công ty T1 Jaccs số tiền nợ gốc là 10.366.132 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: ông Nguyễn Thanh T có đơn xin vắng mặt có lý do; ông Nguyễn Thanh C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp: Công ty T1 tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông C, Toà án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: theo nguyên đơn thì vào ngày 30-01-2023, ông Nguyễn Thanh C có ký hợp đồng với Công ty T1 (JIVF) để vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay là 18 tháng, lãi suất 4,35%/tháng, lãi quá hạn là 150% lãi trong hạn là 6,525%/tháng, vay tín chấp, mục đích vay mục đích vay mua sản phẩm nội thất gia đình và mua bảo hiểm, hình thức trả dần mỗi tháng tiền gốc, lãi là 1.637.137 đồng. Sau khi vay từ ngày 28-02-2023 đến ngày 15-7-2024 ông C có trả được tiền gốc là 9.633.868 đồng, tiền lãi trong hạn là 7.350.224 đồng, lãi quá hạn là 632.149 đồng, phí quản lý là 120.000 đồng, tổng cộng là 17.736.241 đồng. Do cuối năm 2023 ông Cao n không trả nợ đúng hạn, nên Công ty khởi kiện. Sau khi kiện ông C có trả thêm đến nay nhưng không đúng theo hợp đồng. Hiện ông C còn nợ Công ty J số tiền gốc là 10.366.132 đồng và tiền lãi theo hợp đồng. Ông C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên không có ý kiến.

Nay công ty T1 JACCS yêu cầu ông C phải trả số tiền vay gốc là 10.366.132 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay, tạm tính đến ngày nay 01-8-2024, lãi trong hạn là 4.415.254 đồng, lãi quá hạn 1.731.506 đồng, phí quản lý khoản vay là 96.000 đồng, cộng các khoản gốc, lãi, phí là 16.608.892 đồng. Ngoài ra yêu cầu ông C phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn, phí theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.

Xét thấy, ông C có ký hợp đồng vay của Công ty J số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay là 18 tháng, lãi suất 4,35%/tháng, lãi quá hạn là 150% lãi trong hạn là 6,525%/tháng, vay tín chấp, mục đích vay mua mua sản phẩm nội thất gia đình và mua bảo hiểm, hình thức trả dần mỗi tháng tiền gốc và lãi là 1.637.137 đồng. Sau khi vay từ ngày 28-02-2023 đến ngày 15-7-2024 ông C có trả được tiền gốc là 9.633.868 đồng, tiền lãi trong hạn là 7.350.224 đồng, lãi quá hạn là 632.149 đồng, phí quản lý là 120.000 đồng, tổng cộng là 17.736.241 đồng. Do cuối năm 2023 ông Cao n không trả nợ đúng hạn, nên Công ty khởi kiện. Hiện tại đã hết thời hạn vay nhưng ông C vẫn còn nợ gốc là 10.366.132 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay. Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng mời ông C đến tham gia tố tụng về giải quyết vụ án, nhưng ông C vẫn vắng mặt không lý do. Quá trình thực hiện hợp đồng ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của công ty. Căn cứ các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp và Toà án thu thập có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền vay gốc là 10.366.132 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay, tạm tính đến ngày nay 01-8-2024, lãi trong hạn là 4.415.254 đồng, lãi quá hạn 1.731.506 đồng, phí quản lý khoản vay là 96.000 đồng, cộng các khoản gốc, lãi, phí là 16.608.892 đồng. Ngoài ra ông C còn phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn, phí theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên là phù hợp với quy định tại các Điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 90, 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Các Điều 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (JIVF) “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Thanh C.

Buộc ông Nguyễn Thanh C có nghĩa vụ trả cho Công ty T1 (JIVF) số tiền vay gốc là 10.366.132 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay, tạm tính đến ngày nay 01-8-2024, lãi trong hạn là 4.415.254 đồng, lãi quá hạn 1.731.506 đồng, phí quản lý khoản vay là 96.000 đồng, cộng các khoản gốc, lãi, phí là 16.608.892 (Mười sáu triệu sáu trăm lẻ tám nghìn tám trăm chín mươi hai) đồng. Ngoài ra ông C còn phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ trên.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ trên.

2. Án phí: ông Nguyễn Thanh C chịu 830.000 (Tám trăm ba chục nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty T1 (JIVF) số tiền tiền tạm ứng án phí đã nộp 440.000 (Bốn trăm bốn mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Toà án số 0015074 ngày 28-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ