- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thì L - Võ Khánh P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thì L được ly hôn với anh Võ Khánh P.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2023 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
2. Ông Nguyễn Thành Nhạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 344/2023/TLST-HNGĐ, ngày 03/7/2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thì L, sinh năm 1999 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Võ Khánh P, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lê Thị L1 trình bày: Chị L1 và anh Võ Khánh P chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/8/2018, tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Anh chị có 01 con chung là cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 31/01/2023. Trong thời gian chung sống vợ chồng, chị L1 và anh P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh P bản tính hung hăng, thường xuyên chơi bời, không lo kinh tế gia đình. Từ khi sinh con cho đến nay chị L1 sống tại nhà cha mẹ ruột nhưng anh P không đến thăm con cũng như thăm chị L1. Cuộc sống chung bế tắc nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P. Về con chung: Từ khi sinh con cho đến nay cháu Đ sống cùng chị L1, do đó khi ly hôn chị L1 yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Võ Khánh P dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng không có lý do là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị L1 được ly hôn với anh P. Về con chung giao cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 31/01/2023 cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục, anh P không phải chấp dưỡng nuôi con do chị L1 không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung do chị L1 xác định không có không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị L1 và anh P tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày ngày 27/8/2018, tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị L1 khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P và giải quyết về con chung đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh P hiện đang cư trú tại ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Chị L1 là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; anh P là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.
Về hôn nhân:
Chị L1 xác định: Trong thời gian chung sống vợ chồng, chị L1 và anh P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu xuất phát là do anh P bản tính hung hăng, thường xuyên chơi bời, không lo kinh tế gia đình. Từ khi sinh con cho đến nay chị L1 sống tại nhà cha mẹ ruột nhưng anh P không đến thăm con cũng như thăm chị L1. Cuộc sống chung bế tắc nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án đã hòa giải để chị L1 và anh P đoàn tụ nhưng chị L1 vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cã hai không còn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Còn anh P mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể ghi nhận ý kiến của anh P. Xét thấy, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, nhưng chị L1 cương quyết xin ly hôn, còn anh P thì không tham gia hòa giải, vì vậy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L1 là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị L1 và anh P có 01 con chung là cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 31/01/2023. Do từ khi sinh ra cho đến nay cháu Đ sống với chị L1, nên khi ly hôn chị L1 yêu cầu được tiếp tục nuôi con không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ biên bản xác minh ngày 20/7/2023 trưởng ấp K, xã T, thị xã G ông Nguyễn Văn T xác định: Hiện tại con chung của chị L1 và anh P đang sống cùng với chị L1. Mặc khác, cháu Đ sinh ngày 31/01/2023 đến thời điểm xét xử chưa đủ 36 tháng tuổi, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Đ cho chị L1 trực tiếp chăm sóc. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L1 không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị L1 xác định về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị L1 phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thì L được ly hôn với anh Võ Khánh P.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 31/01/2023 cho chị Lê Thì L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu Đ hiện đang sống cùng chị L nên được giữ nguyên.
2.2 Anh Võ Khánh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
2.3 Anh Võ Khánh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Thì L không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thì L Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình 300.000 đồng chị Lê Thì L phải chịu. Chị Lê Thì L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số: 0014854, ngày 03/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND cùng cấp; - CCTHADS cùng cấp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |