vanban.org

Bản án 104/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Anh Huỳnh Thanh H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/8/2023). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. TAND tỉnh Bình Thuận; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Anh Huỳnh Thanh H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dA sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dA sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dA sự
TÒA ÁN NHA DA
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24/8/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHA DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHA DA HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhA dA: 1/ Ông Ngô Đình B Thiện

2/ Ông Nguyễn Thành Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh - Thư ký Tòa án nhA dA huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhA dA huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/8/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Yến L, sinh năm 1985

Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh H, sinh năm 1989

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22/02/2023, bản khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến L trình bày:

Về quan hệ hôn nhA: Chị và anh Huỳnh Thanh H cưới nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhA dA xã Thiện Nghiệp, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo giấy đăng ký kết hôn số 05 ngày 10/01/2011. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện, không ai ép buộc và được gia đình hai bên đồng ý. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được mấy năm thì bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Anh H thường xuyên vắng nhà theo bạn bè chơi cá độ bóng đá, số đề dẫn đến nợ nần. Ngoài ra anh H còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Chị khuyên ngăn anh H thì anh H chửi bới chị. Cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn. Vợ chồng đã sống ly thA hơn ba năm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu xin được ly hôn với anh Huỳnh Thanh H. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Huỳnh Nguyễn Thiên B, sinh ngày 17/01/2011 và Huỳnh Nguyễn Thiên A, sinh ngày 14/4/2013. Hiện nay hai con đang sống cùng chị L. Khi ly hôn chị xin được quyền trực tiếp nuôi hai con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, do anh Huỳnh Thanh H vắng mặt nên chị yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Huỳnh Thanh H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn anh Huỳnh Thanh H. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Liêm Thái, xã Hồng Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhA dA huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dA sự. [2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến L vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Huỳnh Thanh H đã được tống đạt các văn bản tố tụng và được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ anh H tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dA sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhA: Hôn nhA của chị Nguyễn Thị Yến L và anh Huỳnh Thanh H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhA dA tại Ủy ban nhA dA xã Thiện Nghiệp, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo giấy đăng ký kết hôn số 05 ngày 10/01/2011. Đây là hôn nhA hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhA và gia đình. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Yến L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo chị L trình bày, nguyên nhA mâu thuẫn vợ chồng là do không hợp quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không quan tâm nhau. Anh H thường xuyên vắng nhà theo bạn bè chơi cá độ bóng đá, số đề dẫn đến nợ nần. Ngoài ra anh H còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Chị khuyên ngăn anh H thì anh H chửi bới chị. Cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn. Vợ chồng đã sống ly thA hơn ba năm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu xin được ly hôn với anh Huỳnh Thanh H.

Xét mâu thuẫn của chị L và anh H đã trầm trọng, thể hiện qua việc khi Tòa án thông báo về yêu cầu ly hôn của chị L thì anh H không có ý kiến hay tác động gì để hàn gắn gia đình mà bỏ mặc; khi tòa án tổ chức hòa giải đoàn tụ thì anh H vắng mặt không tham dự hòa giải. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhA của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhA giữa chị Nguyễn Thị Yến L và anh Huỳnh Thanh H thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhA không đạt được, không thể kéo dài cuộc sống chung. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhA và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Yến L.

- Về con chung: Chị L và anh H có hai con chung tên Huỳnh Nguyễn Thiên B, sinh ngày 17/01/2011 và Huỳnh Nguyễn Thiên A, sinh ngày 14/4/2013. Hiện nay hai con đang sống cùng chị L. Khi ly hôn chị xin được quyền trực tiếp nuôi hai con.

Xét yêu cầu về nuôi con của chị L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ ngày chị L và anh H sống ly thA, chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu B và A. Tại bản khai ngày 25/4/2023, cháu B và cháu A có nguyện vọng khi ba mẹ ly hôn, hai cháu muốn sống chung với mẹ. Do đó, để không làm thay đổi môi trường sống của cháu B và cháu A nên giao hai con chung tên Huỳnh Nguyễn Thiên B, sinh ngày 17/01/2011 và Huỳnh Nguyễn Thiên A, sinh ngày 14/4/2013 cho chị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Yến L phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dA sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Anh Huỳnh Thanh H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 91, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dA sự; khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhA và gia đình. Điều 146, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dA sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về hôn nhA: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Yến L. Chị Nguyễn Thị Yến L được ly hôn với anh Huỳnh Thanh H. 2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Nguyễn Thiên B, sinh ngày 17/01/2011 và Huỳnh Nguyễn Thiên A, sinh ngày 14/4/2013 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Anh Huỳnh Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. 4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Yến L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị L đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0014539 ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dA sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.

Anh Huỳnh Thanh H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/8/2023). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ