vanban.org

Bản án 104/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị V đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng N.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị V và anh Nguyễn Hoàng N. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị V trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 23/12/2006 và Nguyễn Hoàng Duy K, sinh ngày 07/02/2020. Chị Trần Thị V không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng N cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị V với anh N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị V đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-8-2023
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Minh Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Danh

2. Ông Trần Minh Lý

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh Nhật, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 808/2022/TLST–HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2022 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXX-ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị V, sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An; hiện cư trú tại: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1985, cư trú tại: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị V trình bày: Chị và anh Nguyễn Hoàng N tự nguyện kết hôn vào ngày 07/4/2006 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2006. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 03 năm, sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không đồng quan điểm sống, tính cách nên thường hay cãi nhau, bên cạnh đó anh N không có trách nhiệm trong việc chăm lo cho gia đình. Từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đến tháng 11 năm 2022 vợ chồng chị sống ly thân. Nay chị thấy cuộc hôn nhân của chị không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh N. Về con chung: chị và anh N có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 23/12/2006 và Nguyễn Hoàng Duy K, sinh ngày 07/02/2020, hiện các con đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng N đã được Tòa án cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thẩm quyền của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét bị đơn anh Nguyễn Hoàng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị V và anh Nguyễn Hoàng N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An vào năm 2006 đúng với quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Chị V khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh N do trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và không còn sống chung từ tháng 11 năm 2022. Tòa án thụ lý vụ án và cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải vụ án nhằm tạo điều kiện cho chị V và anh N tìm biện pháp để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng anh N vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị V. Còn chị V kiên quyết ly hôn với anh N. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị V đối với anh N.

Nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị V và anh N có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 23/12/2006 và Nguyễn Hoàng Duy K, sinh ngày 07/02/2020. Chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, anh N không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của chị V. Xét thấy, 02 con chung hiện đang sống với chị V, được chị V chăm sóc và có cuộc sống ổn định, đồng thời con chung Nguyễn Hoàng N1 cũng có nguyện vọng muốn được sống với chị V. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cho chị V được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, do chị V tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tài sản chung, nợ chung: Chị V trình bày chị và anh N không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn anh N không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.

Án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 các Điều 35, 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị V đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng N.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị V và anh Nguyễn Hoàng N.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị V trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 23/12/2006 và Nguyễn Hoàng Duy K, sinh ngày 07/02/2020. Chị Trần Thị V không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng N cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị V đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011494 ngày 20/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, chị V đã nộp đủ tiền án phí.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ