- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 104/2022/HSST Ngày 30-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Xuân Tĩnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hà Thị Hồng Thu;
2. Bà Phạm Thị Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Hoàng Văn A, sinh ngày 13 tháng 11 năm 1998 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Hứa Thị H; vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 1998; con chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 06-8-2020 bị Công an xã H, thành phố L xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, phạt tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 12-10-2020 được xóa tiền sự. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-4-2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Hoàng Doãn C. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 01 giờ 10 phút ngày 28-4-2022 tại khu vực gầm cầu Q/K thôn R, xã M, thành phố L, Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên trái 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy kẻ ô li có chứa chất bột màu trắng, 02 bơm kim tiên bằng nhựa và số tiền 356.000 đồng. Hoàng Văn A khai chất bột màu trắng là ma túy mua để sử dụng. Căn cứ bản Kết luận giám định số 150/KL-KTHS ngày 29-4-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng thu của Hoàng Văn A là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,102 gam.
Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn A khai nhận, khoảng 12 giờ ngày 27-4-2022 Hoàng Văn A mua với số ma túy trên với một người đàn ông không quen biết tại chợ B, gần chợ Đ, thành phố L với số tiền 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó mua 02 lọ nước cất, 02 bơm kim tiên rồi đi đến cầu Q/K xã M lấy ma túy mua được sử dụng một phần, còn một phần gói lại cất trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Khoảng 01 giờ ngày 28-4-2022 khi đang tìm chỗ ngủ dưới gầm cầu Q/K thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 02-8-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố bị cáo Hoàng Văn A ra trước Tòa án nhân dân thành phố L để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Hoàng Văn A, do không có tên, tuổi địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ xác minh xử lý. Người chứng kiến ông Hoàng Doãn C, vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện có được chứng kiến Công an thành phố L lập biên bản bắt quả tang Hoàng Văn A tàng trữ ma túy như bị cáo đã khai nhận ở trên.
Vật chứng vụ án, hiện thu giữ 01 phong bì niên phong đựng số ma túy còn lại sau giám định; 02 bơm kim tiêm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và số tiền 356.000 đồng niêm phong trong phong bì thư thu của bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng xác định qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định Hoàng Văn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt tiền bổ sung; xử lý vật chứng áp dụng điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 02 bơm kim tiêm, 01 vở bao thuốc lá Thăng Long; trả lại bị cáo số tiền 356.000 đồng, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành khoản tiền án phí. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định để nộp ngân sách Nhà nước và có quyền kháng cáo theo luật quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Nên có cơ sở để xác định, vào hồi 01 giờ 10 phút ngày 28-4-2022 tại khu vực gầm cầu Q/K thôn R, xã M, thành phố L, bị cáo Hoàng Văn A có hành vi tàng trữ trái phép 0,102 gam ma túy Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân vì nghiện chất ma túy. Do vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, cụ thể điểm c khoản 1 Điều 249 quy định tàng trữ trái phép chất ma túy Heroin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép thì phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội, ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy. Khi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội.
Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân không tốt, năm 2020 đã bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có 01 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo đã có vợ, nhưng lại nghiện ma túy, đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên nhân thân không tốt. Tuy nhiên số lượng ma túy tàng trữ để sử dụng không lớn, tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên chỉ áp dụng ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp, để bị cáo có thời gian yên tâm cải tạo, được giáo dục sau này trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ kết quả xác minh, xét hỏi tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập, nên không đảm bảo việc thi hành án. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định và 02 bơm kim tiêm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long là chất Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 356.000 đồng, xác định là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành khoản án phí.
Về án phí; quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 21, 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí Toà án, bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Những nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đúng pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội quy định về án phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 28-4-2022.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng sau: Số lượng ma túy Heroin (ma túy còn lại sau giám định) được đựng trong phong bì niêm phong; 02 (hai) bơm kim tiêm; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn A số tiền 356.000 đồng (ba trăm năm mươi sáu nghìn đồng), nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành khoản tiền án phí.
(Vật chứng trên được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-8-2022 giữa Cơ auan cảnh sát điều tra, công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L).
4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn A phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố L; - Công an Tp Lạng Sơn, T Lạng Sơn (01 bản); - Cơ quan THAHS Công an Tp Lạng Sơn (02 bản); - Chi cục THA dân sự thành phố L; - Bị cáo Hoàng Văn A; - Lưu VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Xuân Tĩnh |