vanban.org

Bản án 104/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 29/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Rần Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Rần Văn D 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/8/2022. Giao bị cáo Rần Văn D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Rần Văn D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Rần Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2022/HS-ST
Ngày 29-8-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Đức.

2. Bà Hoàng Thị Phụng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn D Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2022/HSST ngày 17 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Rần Văn D, sinh ngày 20/01/1991 tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Con ông Rần Văn D1 và bà Lại Thị X (đã chết) (ông D được Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Thái Bình tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác giảm nghèo); bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị á p dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Nhân thân: Năm 2010 đến năm 2011 tham gia nghĩa vụ quân sự; Năm 2011, bị cáo được tặng danh hiệu có thành tích tốt trong phong trào thi đua; năm 2018 được Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắt, tiêu biểu trong phong trào thi đua “Công nhân lao động giỏi, lao động sáng tạo”. Có mặt.

- Bị hại: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1972; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. (Đã bị chết).

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

1. Cụ Vũ Thị N, sinh năm 1931; Là mẹ đẻ của bị hại.

2. Ông Vũ Văn H, sinh năm 1966; Là chồng của bị hại.

3. Chị Vũ Thị H, sinh năm 1994; Là con đẻ của bị hại.

Cùng có địa chỉ tại: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

4. Chị Vũ Thị Thanh H, sinh năm 1999; Là con đẻ của bị hại.

Địa chỉ: Thôn T, xã xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Người được ủy quyền của bà Vũ Thị N, chị Vũ Thị H, chị Vũ Thị Thanh H: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Cháu Vũ Đức H, sinh năm 2006; Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo pháp luật của cháu Vũ Đức H: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.Là cha của cháu Hiếu.

2. Công ty Cổ phần thí nghiệm thiết bị điện V; Địa chỉ: phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị Thu H – Chức vụ: Giám Đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ D H, sinh năm 1971, địa chỉ: tập thể T, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm Văn K, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

2. Anh Phạm Văn H, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Người chứng kiến: Anh Phạm Quang V, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Ông Vũ Văn H, chị Vũ Thị H, cháu Vũ Đức H, ông Đỗ D H có mặt, Cụ N, chị H, anh K, anh H, anh V vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ 40 phút ngày 15/02/2022, Rần Văn D có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, điều khiển xe ô tô tải có cẩu, nhãn hiệu HINO biển số đăng ký 29 C

- 662.13, xe có kích thước bao (8,485 x 2,39 x 3,1)m. Đi cùng D có anh Phạm Văn H người làm cùng công ty. D điều khiển xe vào bãi đất bên đường Quốc lộ 10 thuộc thôn N, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình nơi công ty D để các cột điện bằng bê tông đem đi xây dựng công trình lưới điện và đỗ xe hướng đầu xe vào trong và đuôi xe hướng ra đường quốc lộ 10. Sau đó D xuống xe thì gặp anh Phạm Văn K là người cùng Công ty. Tại đây, anh K và D cẩu hai phần cột điện bê tông hình trụ lên thùng xe ô tô gồm: 01 phần cột điện hình trụ dài 6m, một đầu tiếp giáp với mặt trước của thùng xe có đường kính 45,5cm, đầu còn lại có đường kính 41cm nhô ra ngoài thùng xe là 37,5cm; 01 phần cột điện là hình trụ dài 10m một đầu tiếp giáp với mặt trước thùng xe có đường kính là 45,5cm, đầu còn lại có đường kính 19cm, nhô ra ngoài với thùng xe là 4,19m, 02 phần cột điện đặt song song nhau trong thùng xe. Tại vị trí đầu phần cột điện nhô ra D không gắn cờ báo hiệu màu đỏ hoặc tín hiệu khác để tham gia giao thông. Khoảng 7 giờ cùng ngày D lên xe điều khiển lùi xe ra đường quốc lộ 10 để đi xuống công trình, anh K ở dưới chỉ đường cho D, lúc này trời sáng không mưa, mặt đường khô ráo, ánh sáng tự nhiên đủ để quan sát. Chiều đường đi tỉnh Nam Định được chia làm ba làn đường, làn trong giáp dải phân cách rộng 3,35m, làn đường giữa rộng 3,3m, tiếp đến là làn ngoài cùng (làn hỗn hợp) rộng 2,45m, bên phải đường có biển báo W207a, mật độ giao thông bình thường. Khi anh Kiều chưa kịp ra chỉ đường mà đang đứng ở cạnh đuôi thùng xe thì D nổ máy điều khiển lùi xe do không quan sát phía sau, D lùi xe được khoảng 03 mét và phần đầu cột điện có đường kính là 18cm của cột điện dài 10m đã ra vuông góc với đường ra làn đường hỗn hợp cách mép đường 1,9 mét, điểm gần nhất đầu cột điện cách mặt đường 1,04 mét. Lúc này bà Vũ Thị T, điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 17AA-307.99 hướng tỉnh Thái Bình đi tỉnh Nam Định đi tới, phần mặt trước phía trên kính đèn pha xe mô tô đã va vào đầu cột điện đường kính 18cm làm bà T ngã nằm ngửa trên mặt đường đầu quay hướng Nam Định, chân hướng huyện Đông Hưng cách cột mốc km 83+400 đến đỉnh đầu là 29,70 mét, xe mô tô biển số đăng ký 17AA-307.99 đổ rê trên mặt đường và nằm nghiêng phải đầu xe hướng ra lề đường, đuôi xe hướng vào lòng đường, thân xe nằm trên làn đường hỗn hợp cách chỗ bà T nằm 13 mét về phía tỉnh Nam Định. Khi nghe thấy tiếng va chạm D dừng và xuống xe mới biết gây tai nạn. Hậu quả bà Vũ Thị T bị tụ máu dưới da đầu, vỡ xương sọ vùng trán bên trái, tử vong ngay tại hiện trường, xe mô tô biển số đăng ký 17AA-307.99 hư hỏng nhẹ. Cơ quan Cảnh sát điề u tra Công an thà nh phố Thá i Bì nh cù ng cá c cơ quan chứ c năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường , khám nghiệm phương tiện , khám nghiệm tử thi bà Vũ Thị T.

Tại bản kết luận giám định số 33/KL- PC09 (PY) ngày 22/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Nạn nhân Vũ Thị T chết do chấn thương sọ não.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKSTPTB ngày 16/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Rần Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/8/2022. Giao bị cáo Rần Văn D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, C, số giấy phép 340122347503 mang tên Rần Văn D do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 23/9/2020. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo D không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai pháp luật, do sự chủ quan của bị cáo nên đã phạm tội nên mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương. Bị cáo hứa sẽ chấp hành đúng mọi quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng : Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố có trong hồ sơ vụ án và còn được chứng minh bằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thà nh phố Thái Bình, lập ngày 15/02/2022 tại km83+450 Đường tránh S1, quốc lộ 10 thuộc thôn Nam Hiệp Trung, xã Đông Hòa, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình lập ngày 15/02/2022 tại Nhà xác bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình và bản ảnh tử thi. Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 33/KL-PC09(PY) ngày 22/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình . Biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh phương tiện do Cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an thà nh phố Thá i Bì nh lập ngày 15/02/2022 tại Công an thành phố Thái Bình. Phiếu kiểm tra nồng độ cồn của Rần Văn D ngày 15/02/2022 thể hiện nồng độ cồn 0.000 mg/L cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 7 giờ ngày 15/02/2022, Rần Văn D điều khiển lùi xe ô tô có cần cẩu, nhãn hiệu HINO, biển số đăng ký 29C-662.13 ra đường quốc lộ 10, trên thùng xe có 02 phần cột điện, trong đó có 01 phần cột điện nhô ra ngoài với thùng xe là 4,19m. Do không chú ý quan sát phía sau, không có tín hiệu cần thiết, không có cờ màu đỏ báo hiệu trên phần cột điện nhô ra khỏi thùng xe. Khi D lùi xe được khoảng 03 mét và phần đầu cột điện trên thùng xe có đường kính là 18cm của cột điện dài 10m va chạm với mặt trước phía trên kính đèn pha xe mô tô số đăng ký 17AA-307.99 do bà Vũ Thị T điều khiển đi trên đường Quốc lộ 10, hướng tỉnh Thái Bình đi tỉnh Nam Định. Hậu quả bà Vũ Thị T bị ngã đập đầu xuống đường tụ máu dưới da đầu, vỡ xương sọ vùng trán bên trái, tử vong ngay tại hiện trường, xe mô tô biển số đăng ký 17AA-307.99 hư hỏng nhẹ.

Điều 16 Luật giao thông đường bộ, quy định: Lùi xe.

“1 Khi lùi xe, người điều khiển phải quan sát phía sau, có tín hiệu cần thiết và chỉ khi nào thấy không nguy hiểm mới được lùi….”

Điều 20 Xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ.

“1…

2. Khi xếp hàng hóa vượt phía trước và phía sau xe thì ban ngày phải có cờ báo hiệu màu đỏ, ban đêm hoặc khi trời tối phải có đèn đỏ báo hiệu…”

Điều 260. Bộ luật hình sự quy định: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;…”

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 16, khoản 2 Điều 20 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 01 người nên bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định này.

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác đồng thời gây tâm lý hoang mang lo ngại cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã tự nguyện bồi thường phần lớn thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thành tích xuất sắc trong sản xuất, lao động; có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, là người lao động nhất thời phạm tội nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân tốt.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo và những người đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 170.000.000đ (Một trăm bẩy mươi triệu đồng), người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền trên và không yêu cầu thêm gì khác là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận sự tự nguyện này.

Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu nhãn hiệu HINO, màu sơn trắng, biển số đăng ký 29C-662.13, và 02 phần cột điện bê tông hình tròn là tài sản hợp pháp của Công ty cổ phần thí nghiệm thiết bị điện Việt Nam; 01 xe mô tô biển số 17AA-307.99 tài sản hợp pháp của nạn nhân là bà Vũ Thị T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã trả lại chiếc xe ô tô và 02 phần cột điện trên cho chủ sở hữu và trả lại xe mô tô cho ông Vũ Văn Hùng là chồng của bị hại, không ai có đề nghị gì khác nên không đặt ra giải quyết. Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, C, số giấy phép 340122347503 mang tên Rần Văn D, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 23/9/2020 cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố bị cáo Rần Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Rần Văn D 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/8/2022.

Giao bị cáo Rần Văn D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại số tiền 170.000.000 đồng (đã bồi thường xong).

4. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, C, số giấy phép 340122347503 mang tên Rần Văn D, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 23/9/2020.

(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 16/6/2022)

5. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, cụ Vũ Thị N, ông Vũ Văn H, chị Vũ Thị H, chị Vũ Thị Thanh H, cháu Vũ Đức H, Công ty Cổ phần thí nghiệm thiết bị điện V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/8/2022.

Cỡ chữ