vanban.org

Bản án 104/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 24/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy dấu niêm phong số 266MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của 02 mẫu vật, 01 hộp sắt kích thước 1x6x6cm, 01 ví màu nâu, 01 ống hút nhựa dài khoảng 7cm có một đầu cắt vát, 03 dao lam, 03 vỏ gói nilon với các kích thước khác nhau. Tịch thu sung quỹ nhà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2022/HS-ST
Ngày 24-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Mão

Ông Vũ Văn Khang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Hưởng và ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại giam Công an thành phố Hải Phòng, đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Phùng Công T, sinh ngày 26 tháng 9 năm 1961, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Phường V, quận N, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông ông Phùng Công M và bà Phạm Thị G; có vợ là Trần Thị Thu M và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 11/6/2022, đến ngày 16/6/2022 chuyển tạm giam; có mặt.

2. Nguyễn Minh S, sinh ngày 23 tháng 01 năm 1977, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Phường Đ, quận H, Hải Phòng; nghề nghiệp: Thuyền viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu S và bà Phùng Thị T; có vợ là Trương Thị N và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 11/6/2022, đến ngày 16/6/2022 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 11/6/2022, Nguyễn Minh S gọi điện cho Phùng Công T hỏi mua 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000 đồng, T đồng ý và hẹn S đến đầu ngõ 56 Phương Lưu, phường Vạn Mỹ để giao nhận ma túy. Sau đó, S điều khiển xe mô tô Vespa biển kiểm soát 15B1-068.30 đến gặp T tại đầu ngõ 56 Phương Lưu. Tại đây, S đưa cho T 300.000 đồng và T bán cho S 01 gói giấy màu trắng kích thước 1x2cm bên trong có Heroine. S cầm gói Heroine trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô về, khi S đi đến khu vực trước cửa nhà số 112 Phương Lưu, phường Vạn Mỹ thì bị Công an quận Ngô Quyền kiểm tra bắt quả tang. Thu giữ của S 01 gói giấy màu trắng kích thước 1x2cm trong có chất bột màu trắng (mẫu số 1), 01 điện thoại Sam sung Galaxy A30 màu đen nắp sim số 0363.565.089, 01 xe mô tô Vespa biển kiểm soát 15B1-068.30. S khai gói Heroine trên S vừa mua của Phùng Công T sinh năm 1961, trú tại nhà số 35/55/56 Phương Lưu, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Lực lượng công an đưa S về trụ sở Công an phường Vạn Mỹ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để giám định.

Ngoài ra S khai: S nghiện ma túy Heroine khoảng 20 năm nay, mỗi ngày S sử dụng một lần vào thời gian khoảng từ 9 giờ đến 11 giờ hàng ngày. S mua ma túy của T mục đích để sử dụng cho bản thân. S với T có quan hệ quen biết xã hội. Trước đó, S đã hai lần mua ma túy Heroine của T, cụ thể: Khoảng 10 giờ các ngày 09, 10/6/2022, mỗi ngày S mua của T 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng tại khu vực ngõ 56 Phương Lưu.

Kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Nguyễn Minh S, không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phùng Công T. Thu giữ của T 01 ví màu nâu trong có 1.180.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 1110 lắp sim số 0776.194.180; 01 căn cước công dân mang tên Phùng Công T;

Kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Phùng Công T, thu giữ 01 hộp sắt kích thước 1x6x6cm bên trong có: 01 gói nilon kích thước khoảng 2x2cm trong chứa chất bột màu trắng (mẫu số 2); 03 ống hút được cuộn bằng 03 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 ống hút nhựa dài khoảng 7cm có một đầu cắt vát; 03 dao lam; 03 vỏ túi nilon với các kích thước khác nhau.

Phùng Công T khai nhận: Do kinh tế khó khăn nên T nảy sinh ý định mua ma túy Heroine về bán kiếm lời. T đã nhiều lần mua Heroine về bán nhưng chỉ nhớ lần gần nhất vào khoảng ngày 09/6/2022, T đến khu vực đường tàu Bình Hải, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, Hải Phòng mua của người đàn ông không quen biết 1.000.000 đồng được 05 gói Heroine (có gói bằng giấy trắng, có gói bằng túi nilon) mỗi gói có kích thước khác nhau từ 1x2cm đến 2x2cm. T mang 05 gói Heroine về nhà cất giấu và dự định bán khoảng 300.000 đồng/ gói, nếu bán chót lọt T thu lời 100.000 đồng/ gói. Vào khoảng 10 giờ các ngày 09, 10 và 11/6/2022, T đã 03 lần bán Heroine cho Nguyễn Minh S tại khu vực đầu ngõ 56 Phương Lưu, phường Vạn Mỹ, mỗi lần T bán cho S 01 gói với giá 300.000 đồng. Trong 05 gói Heroine nêu trên, T đã bán cho S 03 gói, T sử dụng 01 gói, còn 01 gói T cất giấu trong hộp sắt để có khách hỏi mua thì T bán, khi khám xét lực lượng công an đã thu giữ gói Heroine này. T không biết lai lịch, địa chỉ của người nam giới bán ma túy cho T ở đâu. Đối với số tiền 1.180.000 đồng lực lượng Công an thu giữ của T, trong đó có 880.000 đồng là tiền con gái cho T, còn 300.000 đồng là tiền T bán gói Heroine cho S ngày 11/6/2022.

Tại Kết luận giám định số 266/KL-KTHS(MT) ngày 15/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất bột màu trắng (mẫu số 1) thu giữ của Nguyễn Minh S là ma túy, có khối lượng 0,14 gam, là loại Heroine; Chất bột màu trắng (mẫu số 2) thu giữ của Phùng Công T là ma túy, có khối lượng 0,11 gam, là loại Heroine.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô Vespa biển kiểm soát 15B1-068.30, đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị Oanh, trú tại số 467 Ngô Gia Tự, Đằng Lâm, Hải An, Hải Phòng. Chị Oanh khai sáng ngày 11/6/2022, Nguyễn Minh S (anh ruột chị Oanh) mượn xe của chị nói là đi có việc. Chị Oanh không biết S sử dụng xe đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho chị Oanh (bút lục số 105 đến 108).

- Đối với 01 điện thoại Sam sung Galaxy A30 màu đen lắp sim số 0363.565.089, 01 điện thoại Nokia 1110 lắp sim số 0776.194.180, 01 hộp sắt kích thước 1x6x6cm, 01 ví màu nâu, 01 căn cước công dân mang tên Phùng Công T, 03 ống hút được cuộn bằng 03 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 ống hút nhựa dài khoảng 7cm có một đầu cắt vát, 03 dao lam, 03 vỏ gói nilon với các kích thước khác nhau, 1.180.000 đồng và 01 bì giấy dấu niêm phong số 266MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của 02 mẫu vật, đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/9/2022.

Tại Bản Cáo trạng số 117/CT-VKSNQ ngày 13/9/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phùng Công T về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Minh S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo Phùng Công T, Nguyễn Minh S khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.

Kiểm sát viên tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phùng Công T mức án từ 8 đến 9 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không đề nghị hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định; Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy dấu niêm phong số 266MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của 02 mẫu vật, 01 hộp sắt kích thước 1x6x6cm, 01 ví màu nâu, 01 ống hút nhựa dài khoảng 7cm có một đầu cắt vát, 03 dao lam, 03 vỏ gói nilon với các kích thước khác nhau; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Sam sung Galaxy A30 màu đen lắp sim số 0363.565.089, 01 điện thoại Nokia 1110 lắp sim số 0776.194.180, 03 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo; trả lại bị cáo T 01 căn cước công dân số 031061004160 mang tên Phùng Công T và số tiền 680.000 đồng nhưng tạm giữ tiền để đảm bảo thi hành án. Về án phí: Các bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo Phùng Văn T tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận Giám định số 266/KL-KTHS ngày 15/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Từ ngày 09/6/2022 đến ngày 11/6/2022, Phùng Công T đã 03 lần bán ma túy Heroine cho Nguyễn Minh S tại khu vực đầu ngõ 56 Phương Lưu, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng, cụ thể: Ngày 09/6/2022 T bán cho S 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng, ngày 10/6/2022 T bán cho S 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng, đến ngày 11/6/2022 T bán cho S 01 gói Heroine có khối lượng 0,14 gam với giá 300.000 đồng, khi S đang mang gói Heroine về để sử dụng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra T còn cất giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,11 gam tại nhà để bán kiếm lời.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phùng Công T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự, do đã chứng minh được bị cáo T bán trái phép chất ma tuý 03 lần nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Minh S có bố đẻ tham gia quân đội, là thương binh và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, nên bị cáo S được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt đối với bị cáo:

Hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo T đã bán ma tuý nhiều lần, bị cáo S là người nghiện ma tuý hơn 20 năm chưa cai nghiện được. Do đó cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, cải tạo tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét: 01 bì giấy dấu niêm phong số 266MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của 02 mẫu vật, 01 hộp sắt kích thước 1x6x6cm, 01 ví màu nâu, 01 ống hút nhựa dài khoảng 7cm có một đầu cắt vát, 03 dao lam, 03 vỏ gói nilon với các kích thước khác nhau là vật cấm lưu hành và công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ; đối với 01 điện thoại Sam sung Galaxy A30 màu đen lắp sim số 0363.565.089, 01 điện thoại Nokia 1110 lắp sim số 0776.194.180, 03 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng đây là phương tiện phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung quỹ nhà nước; đối với số tiền 1.180.000 đồng thu giữ của bị cáo T, trong đó có 300.000 đồng là tiền bán ma tuý bị thu giữ ngoài ra bị cáo đã thu lời bất chính 200.000 đồng của 02 lần bán ma tuý trước nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng, trả lại bị cáo số tiền 680.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; trả lại bị cáo T 01 căn cước công dân số 031061004160 mang tên Phùng Công T.

Đối với người bán ma túy cho Phùng Công T chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có cơ sở sẽ xem xét xử lý sau.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Phùng Công T, bị cáo Nguyễn Minh S được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phùng Công T 08 (tám) về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2022.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh S 18 (mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2022

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy dấu niêm phong số 266MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của 02 mẫu vật, 01 hộp sắt kích thước 1x6x6cm, 01 ví màu nâu, 01 ống hút nhựa dài khoảng 7cm có một đầu cắt vát, 03 dao lam, 03 vỏ gói nilon với các kích thước khác nhau.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với 01 điện thoại Sam sung Galaxy A30 màu đen lắp sim số 0363.565.089, 01 điện thoại Nokia 1110 lắp sim số 0776.194.180, 03 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và số tiền 500.000 đồng.

- Trả lại bị cáo Phùng Công T 01 căn cước công dân số 031061004160 mang tên Phùng Công T. Trả lại bị cáo Phùng Công T số tiền 680.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(theo biên bản giao nhận vật chứng 15/9/2022 và Biên lai thu tiền số 000395B ngày 16/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phùng Công Thinh, Nguyễn Minh S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phùng Công Thinh, bị cáo Nguyễn Minh S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ