vanban.org

Bản án 104/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 31/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Đức Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mai Đức Q 01 năm 04 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/8/2022. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Đức Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Đức Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2022/HS-ST
Ngày 19 tháng 12 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Tiến Hào

2. Bà Đặng Thị Huệ

Thư ký phiên tòa: Bà Quan Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2022/TLST-HS, ngày 22 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Mai Đức Q, sinh ngày 18/12/1980, tại tỉnh Nam Định.

Nơi cư trú: Tổ N, phường N, thành phố T, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Văn T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Kim Thu, sinh năm 1961; có vợ: Nguyễn Thị Tâm, sinh năm 1987; con: Chưa có; tiền án: Không;

Tiền sự: Tại Quyết định số 14/QĐ-TA, ngày 05/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nhân thân:

- Bản án số 41 ngày 28/4/2003 của TAND thị xã Tuyên Quang xử phạt 06 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

- Bản án số 48 ngày 15/5/2003 của TAND thị xã Tuyên Quang xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với 06 tháng tù tại Bản án số 41 ngày 28/4/2003, buộc Q phải chấp hành hình phạt chung là 30 tháng tù. (chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/7/2005).

- Bản án số 48 ngày 17/7/2007 của TAND thị xã Tuyên Quang xử phạt 15 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (trị giá tài sản 150.000 đống).

- Ngày 30/7/2009 bị UBND thị xã Tuyên Quang đưa vào cai nghiện ma tuý bắt buộc tại Công trường 06 (Quyết định số 996 ngày 30/7/2009), ngày 28/01/2011 về cai nghiện giai đoạn III tại xã, phường (Quyết định số 500 ngày 28/01/2011);

- Bản án số 114 ngày 13/11/2012 của TAND thành phố Tuyên Quang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (chấp hành xong bản án ngày 24/02/2016);

- Ngày 07/12/2016 bị UBND phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang đưa vào giáo dục tại xã, phường (Quyết định số 87/QĐ-UBND), chấp hành xong ngày 07/3/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn T, sinh năm 1960; nơi cư trú: Tổ N, phường N, thành phố T, tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/8/2022, Mai Đức Q, trú tại tổ 10, phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang một mình điều khiển xe mô tô biển số 22B1-596.09 (xe của bố Q là ông Mai Văn T) đi từ nhà sang khu vực cầu Sắt thuộc thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Q gặp và mua của người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng với giá 200.000 đồng. Q xác định là heroine, cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe về nhà. Khi về đến khu vực gầm cầu Bình Ca thuộc thôn 4, xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, Q dừng xe, tìm chỗ vắng người, lấy một ít ma túy từ gói ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số còn lại, Q gói lại như cũ, cầm ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô để về nhà. Hồi 22 giờ 00 cùng ngày Q về đến thôn 5, xã Tân Long, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang thì bị tổ công tác Công an xã Thái Bình nghi vấn kiểm tra, Q tự giác giao nộp gói ma túy vừa mua được cho tổ công tác, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q và thu giữ 01 gói ma túy, 01 xe mô tô biển số 22B1-596.09.

Xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Q kết quả dương tính, có chất ma túy trong cơ thể Mai Đức Q.

Tại Kết luận giám định số 1002/GĐKTHS ngày 22/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Mai Đức Q gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,180g (không phẩy một tám mươi gam).

Trước Cơ quan điều tra, bị cáo Mai Đức Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 101/CT-VKSYS ngày 21/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn truy tố Mai Đức Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong bản cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS:

+ Tuyên bố bị cáo Mai Đức Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Mai Đức Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/8/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong, mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Mai Đức Q, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong là Heroine.

- Trả lại cho ông Mai Văn T 01 xe mô tô biển số 22B1-596.09, số máy JF46E-4269251, số khung RLHJF4605DY361829 kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô, xe máy 063601.

Ngoài ra đề nghị HĐXX xem xét buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà, không tranh luận gì thêm. Thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn T trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo Mai Đức Q, đối với chiếc xe mô tô BKS 22B1- 596.09 là xe thuộc sở hữu của ông, đăng ký xe mang tên ông; ngày 16/8/2022 bị cáo Mai Đức Q mượn xe mô tô của ông để đi làm gì ông không biết, ông không biết bị cáo sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, nay ông đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc xe mô tô trên và đăng ký xe mô tô cho ông. Ngoài ra ông không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về xem xét hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ ngày 16/8/2022, tại thôn 5, xã Tân Long, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang: Mai Đức Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,180g (không phẩy một tám mươi gam) Heroine, số thứ tự 9 thuộc danh mục IA, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, của Chính phủ.

Theo kết luận giám định chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Mai Đức Q là Heroin có khối lượng là 0,180 gam, bị cáo khai mục đích mua về để sử dụng nên đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương, làm nghiêm trọng thêm tình trạng sử dụng các chất ma túy, gây khó khăn cho cho công tác phòng, chống ma túy trong giai đoạn hiện nay. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, bản thân bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo có 01 tiền sự: Quyết định số 14/QĐ-TA, ngày 05/5/2017, bị TAND thành phố Tuyên Quang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chấp hành xong ngày 14/3/2021). Xét về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu: Bị cáo đã 04 lần bị xét xử về các tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Trộm cắp tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngoài ra bị cáo còn bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt bị cáo hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung và xử phạt bị cáo mức án trong phạm vi đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án: 01 bì niêm phong, mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Q, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong là Heroine nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô biển số 22B1-596.09; 01 đăng kí xe mang tên Mai Văn T, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Mai Văn T, ông Thường không biết việc bị cáo Q sử dụng vào việc đi mua ma túy nên cần trả lại cho ông Thường.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Về các vấn đề khác:

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, ngày 23/8/2022, Công an huyện Yên Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 139/QĐ-XPHC, hình thức phạt: Cảnh cáo.

- Đối với người đàn ông bán ma túy cho Q tại khu vực cầu Sắt, thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Sơn đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định, nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này

- Đối với ông Mai Văn T là chủ sở hữu xe mô tô biển số 22B1-596.09, khi cho Q mượn xe mô tô làm phương tiện đi lại ông Thường không biết Q sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Mai Đức Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Mai Đức Q 01 năm 04 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/8/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “Tang vật vụ Mai Đức Q giám định ngày 17/8/2022” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Mai Đức Q, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong là Heroine.

- Trả lại cho ông Mai Văn T 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B1-596.09, số máy JF46E-4269251, số khung RLHJF4605DY361829; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô, xe máy số 063601.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Yên Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Sơn lập ngày 22/11/2022.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Mai Đức Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ