vanban.org

Bản án 104/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 13/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 05 (lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/8/2022. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ phạm tội TT TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2022/HS-ST
Ngày 13-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Đồng.

Ông Nguyễn Tiến Bộ.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1971 tại xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: thôn Đồng Tân, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn Sừu, sinh năm 1942 và bà Lại Thị Ngắm, sinh năm 1947; vợ là Lê Thị Hạnh, sinh năm 1974, có 02 con (con lớn sinh năm 1994 và con nhỏ sinh năm 1997); Tiền sự: Không; tiền án: 02 tiền án: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 18/7/2019 chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, ngày 28/02/2020 đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Chưa được xóa án tích; năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 21 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 18/3/2022, chưa được xóa án tích; nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam tuyên phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị tạm giữ từ ngày 28/8/2022; chuyển tạm giam từ ngày 06/9/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 02 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 30 phút ngày 28/8/2022, tại khu vực ngã tư thôn Đục Khê, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Tổ tuần tra công an xã Hương Sơn phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ tại túi quần bò bên trái phía trước Đ đang mặc có 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng. Đ khai nhận đó là ma túy heroin, Đ mua về để sử dụng.

Quá trình điều tra làm rõ như sau:

Khoảng 7 giờ ngày 28/8/2022, Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1971, trú tại: thôn Đồng Tân, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đi từ xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đến ngã tư Đục Khê, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội thì xuống xe đi bộ vào một ngõ gặp người đàn ông tên L (mà thời gian trước đó có gặp L ở bến xe thuộc khu vực xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức qua nói chuyện thì biết Liên có ma túy để bán) hỏi mua 100.000 đồng ma túy về để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy Đ cất gói nhỏ ma túy vào túi quần bên trái phía trước Đ đang mặc rồi đi bộ về. Khi đi đến ngã tư Đục Khê, xã Hương Sơn thì Đ bị Lực lượng công an kiểm tra, thu giữ tang vật như trên.

Sau khi bắt quả tang Công an huyện Mỹ Đức tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu cho Nguyễn Văn Đ: kết quả dương tính với ma túy.

Tại phiếu phân tích sơ bộ chất ma túy số 6102/KL-KTHS ngày 28/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết quả như sau: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0.177 gam.

Tại cơ quan điều tra Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 99/CT-VKS-MĐ ngày 09/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2012, nên khoảng 07 giờ ngày 28/8/2022, bị cáo đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đi từ xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đến ngã tư Đục Khê, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội thì xuống xe đi bộ vào một ngõ thuộc khu vực thôn Đục Khê gặp người đàn ông tên L (mà thời gian trước đó có gặp Liên ở bến xe thuộc khu vực xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức qua nói chuyện thì biết L có ma túy để bán) hỏi mua 100.000 đồng ma túy về để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi bộ về. Khi đi đến ngã tư thôn Đục Khê, xã Hương Sơn thì bị cáo bị Lực lượng công an kiểm tra, thu giữ tang vật như trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 06 năm tù đến 07 năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28/8/2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Văn Đ một lần nữa thừa nhận bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên ngày 28/8/2022 tại thôn Đục Khê, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn Đ mua của một người đàn ông tên L số tiền 100.000 đồng được 0.177 gam ma túy Heroin với mục đích sử dụng cho bản thân, khi đang đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lượng công an huyện Mỹ Đức bắt quả tang. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nhân thân của bị cáo đã từng phạm tội nhiều lần ( 02 tội chưa được xóa án tích) nên lần này tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Bị Viện Kiểm sát truy tố áp dụng quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào chế độ quản lý, sử dụng các chất gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ kinh tế của bản thân và xã hội, còn có nguy cơ làm lây truyền nhiều loại bệnh và tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự trị an, an ninh thôn xóm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân

Xét về hành vi của bị cáo: Bản thân bị cáo biết rất rõ ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sức khỏe, kinh tế, thậm chí ảnh hưởng đến cả sự duy trì phát triển lành mạnh nòi giống. Ma túy bị nhà nước nghiêm cấm lưu hành và sử dụng. Bản thân bị cáo đã bị nghiện từ năm 2012 đã từng bị xét xử nhiều lần vè tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn không cai nghiện, nên sau khi ra tù bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn cơn nghiện là thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để trừng trị, răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo ở chỗ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, hứa sẽ không còn tái phạm, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hộị.

Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng đã chở Đ đi từ xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đến ngã tư Đục Khê, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức: Do Đ không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với người đàn ông tên L mà bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai là người bán ma túy cho Đ: Qúa trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định là Phạm Hải Long (tên gọi khác là Liên), sinh năm: 1959, trú tại: thôn Đục Khê, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai Phạm Hải Long nhưng Long không thừa nhận việc bán ma túy cho Đ. Nguyễn Văn Đ cũng không nhận dạng được đối tượng đã bán ma túy cho Đ ngày 28/8/2022 nên không đủ căn cứ chứng minh Long có liên quan đến việc mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của các bị cáo là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 05 (lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/8/2022.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, niêm phong bên trong có chứa ma túy thu giữ của bị cáo Đ.

Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/11/2022 giữa Công an huyện Mỹ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ