vanban.org

Bản án 104/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Dương Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho nguyên đơn ông Dương Văn T được ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H. Về con chung: Dương Thành Đ, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1990, đã thành niên, sức khỏe bình thường, không có yêu cầu giải quyết, nên miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn Ông Dương Văn T và Bà Nguyễn Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Dương Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14-9-2022
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Hồng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Cao Văn Hồng Mến

2. Ông Nguyễn Đinh Cường

Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Phụng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: (không tham gia phiên tòa).

Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2022. Về việc: “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 04 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm 1968 (có mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1963 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 12 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm thì nguyên đơn ông Dương Văn T trình bày: Nguyên đơn ông Dương Văn T với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H cưới nhau theo phong tục tập quán vào năm 1989, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31, Quyển số 01, ngày 17 tháng 7 năm 2002. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân trong sinh hoạt hằng ngày thường xuyên bất đồng quan điểm cự cãi nhau, đã ly thân từ tháng 8 năm 2018 đến nay. Thời gian ly thân vợ, chồng không còn quan tâm qua lại với nhau. Ông T, bà H chung sống có 01 con chung là Dương Thành Đ, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1990, hiện sức khỏe bình thường, có khả năng tự nuôi mình và đã lập gia đình riêng không chung sống với ông T, bà H.

Do sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông T làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Ông T xin được ly hôn với bà H.

Về con chung: Con chung của ông T, bà H là Dương Thành Đ, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1990 đã thành niên, sức khỏe bình thường, có khả năng lao động để nuôi mình, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho bà H biết việc Tòa án thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của ông T, nhưng bà H không có văn bản trình bày ý kiến, vắng mặt tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 06 tháng 5, ngày 24 tháng 5 năm 2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông T khởi kiện xin ly hôn với bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn bà H có nơi cư trú tại huyện Mang Thít. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Vụ án được đưa ra xét xử vào ngày 23 tháng 8 năm 2022, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng bà H vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Hôm nay xét xử lần 2, mặc dù đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng bà H vẫn tiếp tục vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt bà H là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông T với bà H cưới nhau vào năm 1989, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31, Quyển số 01, ngày 17 tháng 7 năm 2002 là hôn nhân hợp pháp, được công nhận là vợ chồng.

Xét, ông T cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân trong sinh hoạt hằng ngày thường xuyên bất đồng quan điểm cự cãi nhau, đã ly thân từ tháng 8 năm 2018. Thời gian ly thân đến nay vợ chồng không còn quan tâm qua lại với nhau. Trong quá trình thụ lý, giải quyết tại Tòa án bà H không tham gia hòa giải, xét xử, không có văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng là có xảy ra trên thực tế, tình nghĩa vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa ông T với bà H lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc ông T yêu cầu được ly hôn với bà H là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 51, 53, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận.

Về con chung: Xét thấy, con chung của ông T, bà H là Dương Thành Đ, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1990 đã thành niên, sức khỏe bình thường, có khả năng lao động để nuôi mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.

Quyền và nghĩa vụ về tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả: Tự thỏa thuận, không có yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

Về án phí: Theo quy định tại các Điều 24, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc ông T nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 53, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và các Điều 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 24, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Dương Văn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho nguyên đơn ông Dương Văn T được ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H.

2. Về con chung: Dương Thành Đ, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1990, đã thành niên, sức khỏe bình thường, không có yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

3. Quyền và nghĩa vụ về tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên không xét.

4. Về án phí: Nguyên đơn ông Dương Văn T nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ từ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, lai số: No 0007040, ngày 15 tháng 4 năm 2022, nên không phải nộp thêm.

Đương sự (nguyên đơn) có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự (bị đơn) vắng mặt tại phiên tòa, báo cho biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ