vanban.org

Bản án 104/2021/HSST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Đàm Quang S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Hủy hoại tài sản”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày chính quyền địa phương được giao giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Trong trường hợp bị cáo S chuyển nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự. Giao bị cáo Đàm Quang S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đàm Quang S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Hủy hoại tài sản”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày chính quyền địa phương được giao giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2021/HSST
Ngày: 25/11/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Lệ Thu;

2. Ông Ngô Hữu Quang.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Cán bộ TAND Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên

Trong ngày 25 tháng 11 năm 2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 113/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Đàm Quang S, sinh năm 1984 tại tỉnh Vĩnh Long; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và cư trú: X, ấp S, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Tài xế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Nguyễn Phú H, sinh năm 1958 và con bà Đàm Thị Mỹ L, sinh năm 1961; Có vợ Đặng Thị T, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 02 người con (lớn nhất sinh năm: 2010, nhỏ nhất sinh năm: 2012). Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/02/2021 đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Ấp H, C, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Viết T, sinh năm 1984; địa chỉ: Y, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Trần Thành T, sinh năm 1987; Z, phường K, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2. Ông Trần Đình Tuấn K, sinh năm 2003; địa chỉ: Z, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

3. Công ty TNHH L.R; địa chỉ trụ sở: B, phường P, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện hợp pháp cho Công ty TNHH L.R: Ông Hoàng Minh N, sinh năm 1990; địa chỉ: Đ, Phường 10, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Người làm chứng:

1. Ông Đặng Ngọc T, sinh năm 1987; Số O đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường 11, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2. Ông Trần Quang T, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu tập thể C huyện C, ấp H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

3. Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp T, xã Q, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

4. Ông Ngô Hải A, sinh năm 1996; V, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện nhiệm vụ được phân công của Chỉ huy Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành đưa đối tượng Lê Hoàng K cùng vật chứng đến Phòng kỹ thuật hình sự-Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành giám định chất ma túy. Vào lúc 02 giờ ngày 14/10/2020, Thượng sỹ Đặng Ngọc T, tài xế điều khiển xe ô tô Isuzu chở phạm (đặc chủng) màu xanh, biển số: 51F-X của Công an huyện C cùng cán bộ chiến sĩ Công an huyện C gồm: Thiếu úy Trần Quang T (trinh sát) và Thiếu úy Nguyễn Ngọc T (trinh sát), chở đối tượng Lê Hoàng K cùng chất ma túy trên đường đi giám định. Đến khoảng 04 giờ khi đến trước nhà số 452A Nguyễn Thị Thập, khu phố 1, phường Tân Quy, Quận 7 thấy phía trước xe ô tô Huyndai màu trắng, loại xe 04 chỗ ngồi, biển số: 50LD-Y do Đàm Quang S điều khiển chở Trần Đình T (ngồi ghế phụ) và Trần Đình Tuấn K, sinh ngày 20/10/2003 (ngồi băng ghế sau) đang lùi về phía xe đặc chủng. Đồng chí Đặng Ngọc T đã liên tục bấm còi để báo cho xe Huyndai dừng lại nhưng xe Huyndai trên vẫn tiếp tục lùi. Khi cách xe khoảng 0,5m thì Đàm Quang S, Trần Đình T và Trần Đình Tuấn K bước từ xe Huyndai xuống, đi về phía xe đặc chủng. Trần Đình T cầm một vật gì (không xác định được) đến phía bên tài xế xe Công an huyện C nhìn vào xe ô tô. Đàm Quang S đi lại bên phía nghế phụ xe đặc chủng chửi những người trên xe “Mày bóp còi con…gì”, rồi S dùng tay đấm vào cửa kính bên phải (bên ghế phụ) nhưng không bể kính, tiếp tục đấm tiếp lần thứ 2 vào kính làm vỡ kính. S la lên “Đập chết mẹ nó hết cho tao”. K ra can ngăn. S và T lên xe bỏ đi. Sau đó, S, T và K về nhà số Z, phường K, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó Công an triệu tập đến làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, bị cáo Đàm Quang S khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngày 15/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 7 ra yêu cầu định giá tài sản tài sản kính xe cửa bên phải phía trước xe Isuzu màu xanh, chở phạm, biển số: 51F-X. Tại Kết luận định giá tài sản số 444/KL-HĐĐGTTHS ngày 08/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự-Ủy ban nhân dân Quận 7 kết luận: giá trị 2.320.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 96/CT - VKS ngày 04/8/2021 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Đàm Quang S về tội “Hủy hoại tài sản” theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đàm Quang S từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Hủy hoại tài sản”. Đề nghị xem xét miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo S vì bị cáo đang trực tiếp nuôi 02 con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có việc làm ổn định.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt ở trên, không tự bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, ông Nghĩa,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 444/KL-HĐĐGTTHS ngày 08/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 7, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ, xét đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đàm Quang S thực hiện hành vi hủy hoại tài sản, tài sản bị hủy hoại là kính xe cửa bên phải phía trước xe Isuzu màu xanh, chở phạm, biển số: 51F-X, trị giá 2.320.000 đồng của Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi này của bị cáo đã phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xét xử bằng biện pháp hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã ly hôn năm 2014 và đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con nhỏ sinh năm 2010 và 2012, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo Đàm Quang S đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo S có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng Điều 36 cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo S, vì bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con nhỏ sinh năm 2010 và 2012, lao động chính trong gia đình, bị cáo là lao động phổ thông (bị cáo làm nghề tài xế).

Đối với Trần Đình T có hành vi mở cửa xe bước ra cùng với S, sau đó T cầm một vật gì (không xác định được) đến phía bên tài xế xe Công an huyện C nhìn vào xe. Sau khi S có hành vi hủy hoại tài sản thì T can ngăn S, để không cho S tiếp tục hủy hoại tài sản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 không có căn cứ xử lý T về hành vi đồng phạm là có căn cứ nên không xét.

Xử lý vật chứng vụ án:

- Một số mảnh vỡ của kính tô xe ô tô Isuzu màu xanh, chở phạm, biển số: 51F-X của Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe ô tô Huyndai màu trắng, loại xe 04 chỗ ngồi, biển số: 50LD-Y Kết quả xác minh đứng tên chủ sở hữu là Công ty TNHH L.R (Việt Nam). Làm việc với đại diện Công ty TNHH L.R khai. Công ty ký hợp đồng lao động với Đàm Quang S với vị trí tài xế chạy taxi cho Công ty. Việc bị cáo S điển khiển xe ô tô của Công ty dẫn đến việc hủy hoại kính xe ô tô của Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty không biết và cũng không yêu cầu bị cáo S bồi thường. Bị cáo S khai lời khai của đại diện Công ty là đúng và bị cáo S đã điều khiển xe ô tô nêu trên gây cản trở và sau đó hủy hoại tài sản kính xe ô tô của Công an huyện C. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 trả xe ô tô nêu trên cho Công ty TNHH L.R là có căn cứ nên không xét.

- Tài sản thu giữ của Trần Đình T: 01 con dao dài 30cm, ngang 03cm, cán vàng, lưỡi màu trắng. T khai con dao trên lấy ở quán Karaoke S, để hù dọa nhân viên quán Karaoke S. Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu bị cáo Đàm Quang S bồi thường trị giá kính theo định giá 2.320.000 đồng. Ngày 03/3/2021, bị cáo Đàm Quang S đã bồi thường số tiền theo yêu cầu và Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không có yêu cầu gì khác nên không xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Đàm Quang S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Hủy hoại tài sản”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày chính quyền địa phương được giao giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Trong trường hợp bị cáo S chuyển nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Giao bị cáo Đàm Quang S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đàm Quang S.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Một số mảnh vỡ của kính tô xe ô tô Isuzu màu xanh, chở phạm, biển số: 51F-X của Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ 01 con dao dài 30cm, ngang 03cm, cán vàng, lưỡi màu trắng thu giữ của Trần Đình T.(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 117 ngày 19/8/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7)

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/11/2021), bị cáo và các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ