- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Hùng H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2021.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2021/HSST Ngày 20/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên;
Ông Nguyễn Trọng Long;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự thụ lý số: 119/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 09 năm 2021 đốivới các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hùng H, sinh năm 1996 tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn HB, xã TG, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kịnh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Vũ Thị Th; Vợ, con: Chưa; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 164/2015/HSST ngày 30/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", bản án đã được xóa; Bị cáo bị bắt từ ngày 01/4/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vũ Văn Z, sinh năm 2000 tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn HB, xã TG, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kịnh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 07/12; Con ông Vũ Văn N và bà Nguyễn Thị L1; Vợ, con: Chưa; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị bắt từ ngày 01/4/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Văn Hg, sinh năm 1992 (vắng mặt);
- Anh Tạ Minh Đ, sinh năm 1995 (vắng mặt);
Đều cư trú: Thôn NĐ, xã TH, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.
- Anh Đỗ Minh Q, sinh năm 1997 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn XS, xã TG, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.
- Anh Lê Văn L, sinh năm 1987 (vắng mặt);
Nơi cư trú; Thôn ĐT, xã HK, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h ngày 01/4/2021, Lê Văn L gọi điện thoại cho Nguyễn Hùng H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, H đồng ý và hẹn địa điểm giao hàng tại ngã ba BA, xã TG, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Sau đó, H gọi điện bảo Vũ Văn Z đến lấy ma túy giao cho L và thu tiền về. Y đi bộ sang nhà H lấy 01 túi ma túy và xe máy BKS 88L1 - 314.10 của H rồi quay về nhà đón bạn gái là Nguyễn Thị Hn đi chơi đồng thời mang ma túy đến điểm hẹn giao cho L. Do L không vay được tiền để mua ma túy nên L nhờ bạn gái là Dương Thị V đi xe máy BKS 29S6-673.83 và mang theo điện thoại Iphone của L đến điểm hẹn để bảo H không mua ma túy nữa. Khi đến nơi, Y và V chưa kịp trao đổi gì thì bị Công an kiểm tra, thu giữ của Y 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 điện thoại, 01 xe máy BKS 88L1-314.10; thu giữ của V 02 điện thoại và 01 xe máy BKS 29S6 - 673.83.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Nguyễn Hùng H tại thôn BA, xã TG, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thu giữ 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng, 05 túi nilon chưa qua sử dụng, 01 điện thoại di động loại 2 sim và số tiền 5.700.000 đồng.
Quá trình điều tra Nguyễn Hùng H và Vũ Văn Z còn khai nhận: Trước đó, H, Y đã bán trót lọtma túy cho Đỗ Minh Q và Nguyễn Văn Hg cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 21h ngày 31/3/2021, Đỗ Minh Q sử dụng tài khoản Facebook cùng tên gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger vào cho Nguyễn Hùng H có tài khoản Facebook cùng tên hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, H đồng ý và hẹn địa điểm giao hàng tại gầm cầu đường 3B giao với đường 296 thuộc địa phận thôn HB, xã TG, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Sau đó, H gọi điện cho Vũ Văn Z bảo Z đi giao ma túy cho Q và thu tiền về. Z cầm 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá đến điểm hẹn giao cho Q và thu 200.000 đồng đưa cho H.
Lần thứ 2: Khoảng 9h ngày 01/4/2021, Đỗ Văn Hg sử dụng tài khoản Zalo Anh Hg, số điện thoại 098 141 8892 gọi điện và nhắn tin qua tài khoản Zalo H Trố của Nguyễn Hùng H hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, H đồng ý. Tiếp đó Hg chuyển 200.000 đồng vào tài khoản số 2880100108888 tại Ngân hàng TMCP Quân Đội của H rồi gọi điện thoại nhờ Tạ Minh Đ qua nhà H lấy ma túy hộ, Đ đồng ý và đi xe đến nhà H lấy 01 túi nilon chứa ma túy đá mang về cho Hg và cùng Hg sử dụng ma túy.
Tại Kết luận giám định số 2835/KLGĐ-PC09 ngày 07/4/2021 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- 01 túi nilon thu giữ của Vũ Văn Z là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,126 gam.
- 01 túi nilon thu giữ của Nguyễn Hùng H là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,151 gam.
* Bị cáo Nguyễn Hùng H và Vũ Văn Z khai: Tối ngày 30/3/2021, H lên khu vực xã Thanh Xuyên, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên vào một nhà ven đường mua 400.000 đồng được 02 gói ma túy đá, H mang về chia thành 04 gói để bán kiếm lời. Tối ngày 31/4/2021, Đỗ Minh Q gọi hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, H đồng ý và gọi điện bảo Y mang ma túy đến giao cho Q và thu tiền về, H cho Z 100.000 đồng. Cũng thủ đoạn như trên, khoảng 12h30 ngày 01/4/2021, H bảo Z mang 01 túi ma túy đến ngã ba HB, TG giao cho L và thu 300.000 đồng nhưng Y chưa kịp giao ma túy thì bị bắt. Ngoài ra, 9h ngày 01/4/2021, H trực tiếp bán trót lọt 01 túi ma túy cho Nguyễn Văn Hg với giá 200.000 đồng. Đối với xe máy BKS 88L1-314.10 do H mua lại ở thành phố Thái Nguyên năm 2019, khi mua có đăng ký xe nhưng đã bị mất. Các bị cáo nhận thấy hành hình vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Minh Q khai (bút lục 222-223): Tối ngày 31/4/2021, anh gọi điện qua Messenger Facebook cho H hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, H đồng ý và hẹn giao hàng tại gầm cầu đường 3B giao với đường 296 thuộc địa phận thôn HB, xã TG. Khi đến nơi, anh thấy Vũ Văn Z đứng đợi, anh đưa cho Z 200.000 đồng và nhận lại 01 túi ma túy đá. Cơ quan điều tra đã thu giữ của anh 01 điện thoại Iphone, điện thoại này anh sử dụng để liên lạc mua ma túy của H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn Hg khai (bút lục 182-183): Khoảng 9h ngày 01/4/2021, anh gọi điện và nhắn tin qua Zalo cho H hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. Sau đó anh chuyển vào tài khoản của H tại MBbank 200.000 đồng và gọi điện cho Đ là người cùng thôn đến nhà H lấy ma túy về hộ, Đ đồng ý. Sau khi lấy ma túy, anh và Đ cùng nhau sử dụng hết. Cơ quan điều tra đã thu giữ của anh 01 điện thoại Vivo, điện thoại này anh sử dụng để liên lạc mua ma túy của H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Tạ Minh Đ khai (bút lục 191-192): Khoảng 9h ngày 01/4/2021, anh đang đi mua sữa bột cho con ở Phố Nỷ, TG thì Hg gọi điện nhờ vào nhà H lấy ma túy về hộ, anh đồng ý. Sau đó anh đến nhà H lấy 01 gói ma túy đá mang về đưa cho Hg và cũng Hg sử dụng gói ma túy đó. Khi làm việc, Cơ quan điều tra đã thu giữ của anh 01 điện thoại Oppo, điện thoại này anh sử dụng để liên lạc Hg khi Hg nhờ lấy ma túy hộ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn L khai (bút lục 201 - 202): Khoảng 12h50 ngày 01/4/2021, anh gọi điện cho H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, H đồng ý và hẹn giao hàng tại ngã ba BA, TG. Sau đó anh không vay được tiền và ngại gặp H nên anh nhờ bạn gái là Dương Thị V đi xe máy BKS 29S6-673.83 (xe này trước đó anh mượn của chị Nguyễn Thị Thu Hiền để đi có việc) và mang theo điện thoại Iphone 5 của anh đến điểm hẹn để bảo H không mua ma túy nữa. Khi V đến điểm hẹn chưa kịp trao đổi gì thì bị Công an kiểm tra bắt giữ, thu 01 điện thoại Iphone 5 của anh, điện thoại này anh sử dụng để liên lạc mua ma túy của H.
Bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 21/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Hùng H và Vũ Văn Z về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Nguyễn Hùng H mức án từ 07năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
Xử phạt: Vũ Văn Z mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy; tịch thu sung công 05 điện thoại của H, Y, Q, Hg, L và Đ; truy thu sung công của bị cáo H 300.000đ và bị cáo Z 100.000đ, trả lại 04 điện thoại cho anh Hg, anh Q, anh L, anh Đ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12h ngày 01/4/2021, Nguyễn Hùng H đưa cho Vũ Văn Z 01 túi nilon bên trong chứa ma túy loại Methamphetamie, khối lượng 0,126 gam để Z giao cho Vũ Văn L và thu về 300.000 đồng, nhưng Z chưa kịp giao ma túy thì bị bắt giữ. Cùng với thủ đoạn trên, khoảng 21h ngày 31/3/2021, Z nhận từ H 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá và giao trót lọt cho Đỗ Minh Q, thu 200.000 đồng về cho H, Z được 100.000 đồng tiền công. Ngoài ra, khoảng 9h ngày 01/4/2021, H bán trót lọt 01 gói ma túy đá cho Đỗ Văn Hg với giá 200.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Hùng H và Vũ Văn Z đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với định khung tăng nặng “Phạm tội từ 2 lần trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh trật tự công cộng, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển của giống nòi cũng như tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; ông nội bị cáo Z là người có công với cách mạng nên bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Nguyễn Hùng H là người mua ma túy và trực tiếp giao dịch bán ma túy với các đối tượng nên giữ vai trò cao hơn bị cáo Z; bị cáo Vũ Văn Z đi giao ma túy cho H để được hưởng tiền công, là đồng phạm với bị cáo H với vai trò là người giúp sức.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Hùng H có 01 tiền án về cùng loại tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bản án đã được xóa nhưng thể hiện nhân thân xấu; bị cáo Vũ Văn Z ngày 09/11/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng các bị cáo không chịu sửa chữa, cải tạo mà tiếp tục phạm tội thuộc loại tội rất nghiêm trọng. Vì vậy thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Đối với người bán ma túy cho H: Do H không xác định được vị trí ngôi nhà cũng như danh tính người bán ma túy cho H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn không có căn cứ làm rõ xử lý.
Đối với Đỗ Minh Q, Đỗ Văn Hg, Vũ Văn L, Tạ Minh Đ và Dương Thị V có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn đã ra quyết định xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với người phạm tội. Xét thấy các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Nguyễn Hùng H và giám định viên; 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Vũ Văn Z và giám định viên là vật cấm lưu hành trái phép và 05 túi nilon chưa qua sử dụng, giá trị không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động SamSung A10, 2 sim thu của Nguyễn Hùng H; 01 điện thoại di động Iphone 6, màu vàng thu của Vũ Văn Z; 01 điện thoại di động Iphone màu xanh thu giữ của Đỗ Minh Q; 01 điện thoại di động ViVo thu giữ của Đỗ Văn Hg; 01 điện thoại di động Oppo thu giữ của Tạ Minh Đ và 01 điện thoại di động Iphone 5 thu giữ của Vũ Văn L là pHg tiện các bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy nên tịch thu sung công.
- Đối với số tiền 5.700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Hùng H, trong đó có 300.000 đồng là tiền bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công. Số tiền còn lại là 5.400.000 đồng là tiền hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 100.000 đồng H trả công cho Z khi bán ma túy trót lọt cho Q là tiền phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo Z để sung công.
- Đối với 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave, biển kiểm soát 29S6-673.83 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thu H2 nên Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn đã trả lại chiếc xe cho chị H2.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha đeo BKS 88L1 - 314.10: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn xác định được xe máy này là tang vật của vụ án trộm cắp tài sản xảy ra ngày 28/10/2019 trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy ngày 14/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn đã bàn giao xe máy trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Tiên Du để giải quyết theo thẩm quyền.
Về án phí: Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Nguyễn Hùng H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2021.
Xử phạt Vũ Văn Z 07 (bảy) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2021.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Nguyễn Hùng H và Giám định viên; 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Vũ Văn Z và Giám định viên.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động SamSung A10 loại 2 sim của Nguyễn Hùng H; 01 điện thoại di động Iphone 6của Vũ Văn Z; 01 điện thoại di động Iphone của Đỗ Minh Q; 01 điện thoại di động ViVo của Đỗ Văn Hg; 01 điện thoại di động Oppo của Tạ Minh Đ và 01 điện thoại di động Iphone 5 của Vũ Văn L (Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
Tịch thu sung công 300.000 đồng của Nguyễn Hùng H; trả lại bị cáo Nguyễn Hùng H 5.400.000 đồng
Truy thu sung công 100.000 đồng của Vũ Văn Z.
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự/.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Các đương sự; - VKSND huyện Sóc Sơn. - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn. - Công an huyện Sóc Sơn. - Đương sự. - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |