vanban.org

Bản án 104/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tuyên án 03/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 06/9/2021. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ M
TỈNH D
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:104/2021/HS-ST
Ngày: 03/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M, TỈNH D

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lựu

2. Ông Nguyễn Văn Xô

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền Lương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh D xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2021/QĐXX-HS ngày 22/11/2021 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1990, Nơi cư trú: Khu dân cư K, phường T1, thị xã M, tỉnh D; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn Đ và bà Đỗ Thị T2. Bị cáo có vợ Nguyễn Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền sự: không

Tiền án: 01 tiền án

Bản án số 20 ngày 15/3/2018 của TAND huyện M xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 19/01/2020 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 11/7/2018 chấp hành xong phần thi hành án dân sự.

Nhân thân:

Bản án số 24 ngày 16/5/2012 của TAND huyện M xử phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 09/01/2014 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 30/7/2012 chấp hành xong phần thi hành án dân sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/9/2021 đến ngày 09/9/2021 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã M đến nay. Có mặt tại phiên tòa

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1967

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 04/9/2021 Trần Văn T đi xe ôm của một người không quen biết từ khu vực T1, thị xã M, tỉnh D đến khu vực đường tàu thuộc huyện An Dương - thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và mua của một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ 05 gói ma tuý loại Heroin, được gói bằng giấy bên trong mỗi gói chứa chất bột dạng cục màu trắng với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T bắt xe về chỗ ở của mình tại K, phường T1, thị xã M. Về đến nhà, T lấy 01 gói ma túy ra sử dụng hết, còn lại 04 gói ma túy T cất vào túi áo ngực bên phải của T. Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 06/9/2021 khi T đang đi bộ trên đoạn đường thuộc khu dân cư Vinh Quang, phường A, thị xã M thì bị Tổ công tác thuộc Công an thị xã M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại túi áo ngực phía trước bên phải T đang mặc 04 gói giấy bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng(được niêm phong ký hiệu M). T khai đây là số ma túy của T. T cất giấu nhằm mục đích sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn T kết quả: không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu nào liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 499/TB-PC09 ngày 08/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh D kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng trong phong bì ký hiệu M, ghi thu của Trần Văn T, gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,372g là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 0,306g ma túy loại Heroine, 04 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M gửi đến giám định.

Quá trình điều tra, Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 108/CT - VKS ngày 12/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo T khai nhận do bị nghiện ma túy nên bị cáo đi mua ma túy về với mục đích để sử dụng, bị cáo nhận thức được việc làm của bị cáo là sai. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình.

- Đại diện VKSND thị xã M giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xem xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Văn T từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 06/9/2021.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy số ma túy thu giữ trong vụ án (mẫu ma túy hoàn lại sau giám định).

- Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thị xã M; Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận, do có nhu cầu sử dụng ma túy, sáng ngày 04/9/2021 bị cáo đã đi xuống khu vực đường tàu thuộc huyện An Dương, Hải Phòng mua ma túy, loại Heroin về sử dụng. Sáng ngày 06/9/2021, bị cáo đang đi bộ thuộc khu vực đường Vinh Quang, phường A, thị xã M thì bị Tổ công tác công an thị xã M kiểm tra phát hiện thu giữ tại túi áo ngực phía trước của T 04 gói giấy, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Bị cáo xác định 04 gói giấy, trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang là ma túy, loại Heroin là của bị cáo, bị cáo cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, phù hợp tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong và Kết luận của cơ quan giám định, cũng như tang vật chứng đã thu giữ.

Đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 08 giờ 30 phút, ngày 06/9/2021 tại khu dân cư Vinh Quang, phường A, thị xã M, tỉnh D, Trần Văn T có hành vi cất giấu 0,372 gam là ma túy, loại Heroin với mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác thuộc Công an thị xã M phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy và sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng không những gây tác hại cho sức khoẻ, mà còn làm suy thoái phẩm giá con người, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo đã có hai lần bị kết án, trong tại bản án số 20/2018/HSST ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thị xã M xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 19/01/2020 bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo về địa phương nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, mà lại có hành vi cất giấu ma túy với mục đích để sử dụng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần phải buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 20/2018/HSST ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thị xã M xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 19/01/2020 bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ trong vụ án, sau khi giám định thì Cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu ma túy sau giám định và được niêm phong trong phong bì số 499/KLGĐ-PC09 ngày 08/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh D, đây là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu cho tiêu hủy.

Theo lời khai của bị cáo T, nguồn gốc số ma túy bị cáo bị thu giữ là do bị cáo mua của một người phụ nữ ở khu vực đường tàu thuộc huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người bán ma túy cho bị cáo. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã M không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

Án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Căn cứ: Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 06/9/2021.

- Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy thu giữ trong vụ án (mẫu ma túy hoàn lại sau giám định), mẫu ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì niêm phong số 499/KLGĐ-PC09 ngày 08/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh D.

(Số lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/11/2021 giữa Công an thị xã M và Chi cục thi hành án dân sự thị xã M).

- Án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, đã báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ