vanban.org

Bản án 104/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị M đối với bị đơn anh Đỗ Văn C về việc ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị M đƣợc ly hôn với anh Đỗ Văn C (theo giấy chứng nhận kết hôn số 28, do Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh N cấp ngày 25/3/2011). Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Đỗ Bảo A, sinh ngày 06/02/2018 cho chị Bùi Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Buộc anh Đỗ Vă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị M khởi kiện anh C về việc ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị M đối với bị đơn anh Đỗ Văn C về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 104 /2020/HNGĐ-ST
Ngày 04-9-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Ông Nguyễn Văn Nông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 468/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 138/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2020 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị M, sinh năm 1987; thƣờng trú: Số 1365/13, khu phố P, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Chỗ ở hiện nay: Thôn 13, xã K, huyện Y, tỉnh N. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số 1365/13, khu phố P, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Chỗ ở hiện nay: Số 120 đƣờng P, khu phố T , phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2020, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Bùi Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trƣớc khi kết hôn, chị M và anh C có thời gian tìm hiểu và sống chung với nhau từ năm 2004, không tổ chức lễ cƣới, đến năm 2011 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh N theo giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 25/3/2011. Sau khi kết hôn, anh chị sống tại quận 12, Thành phố M một thời gian thì chuyển về D sống cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đƣợc vài năm thì không hạnh phúc do vợ chồng hay bất đồng quan điểm, anh C có tính gia trƣởng, ghen tuông vô cớ và hay chơi đánh bạc dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau. Thỉnh thoảng, anh C còn có những lời lẽ xúc phạm, đe dọa và có hành vi bạo lực với chị M. Năm 2019, anh C đã viết cam kết sẽ thay đổi. Tuy nhiên, anh C vẫn không thay đổi. Chị M đã về nhà mẹ ruột sống từ tháng 4/2020 cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị Mai yêu cầu đƣợc ly hôn với anh C.

- Về con chung: Qúa trình sống chung, vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Thị Kiều A, sinh ngày 17/10/2009 và Đỗ Bảo A, sinh ngày 06/02/2018. Hiện nay, cháu Bảo A đang sống chung với chị M, cháu Kiều A đang sống với anh C. Theo đơn khởi kiện, chị M yêu cầu sau khi ly hôn đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng hai con chung, yêu cầu anh C cấp dƣỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng/cháu, tổng cộng hai cháu 6.000.000 đồng/tháng. Qúa trình tố tụng, chị M thay đổi yêu cầu về phần cấp dƣỡng, cụ thể: Chị M không yêu cầu anh C cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nghĩa vụ về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 26/6/2020, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn anh Đỗ Văn C Trình bày: Thống nhất trình bày của chị M về thời gian tìm hiểu, kết hôn. Anh C xác định cuộc sống vợ chồng vẫn hạnh phúc, tuy nhiên thỉnh thoảng anh chị vẫn cãi nhau và anh C đã đánh chị M. Anh C cho rằng thỉnh thoảng anh chơi đánh bạc chỉ là chơi vui, giải trí với bạn bè, không ảnh hƣởng đến gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn khi cách nay khoảng vài tháng, do tác động bên ngoài và thƣơng yêu chị M nên anh C đã ghen tuông vô cớ, có những lời lẽ xúc phạm và đe dọa chị Mai. Sau hôm đó, chị M đã dẫn cháu Đỗ Bảo A về nhà mẹ ruột sống cho đến nay. Anh C đã đi tìm chị M để xin lỗi và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng chị Mai không đồng ý. Nay anh C xác định vẫn còn tình cảm với chị M nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị M.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Thị Kiều A, sinh ngày 17/10/2009 và Đỗ Bảo A, sinh ngày 06/02/2018. Hiện nay, cháu Bảo A đang sống chung với chị M, cháu Kiều A đang sống với anh C. Trƣờng hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, anh C đề nghị đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng hai con chung và không yêu cầu chị M cấp dƣỡng nuôi con vì chị M không đủ sức khỏe và điều kiện kinh tế để nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh B tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hô ̣i đồng x ét xử và đƣơng s ự đa chẫ

́p hành và tuân theo đúng quy đi ̣nh của Bộ luật tố tụng dân sự ; thờ i ha ̣n giải quyết vu ̣ án đảm bảo theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 203 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng Dân sƣ̣ . Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị M và anh Đỗ Văn C đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Yê, tỉnh N, theo giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 25/3/2011, là hôn nhân hợp pháp. Chị M và anh C xác định cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C ghen tuông vô cớ, có những lời lẽ xúc phạm, đe dọa và đánh chị M. Anh C cho rằng những mâu thuẫn trên chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt, không trầm trọng, anh C còn thƣơng yêu chị M nên không đồng ý ly hôn.

Xét, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, do mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh C đã diễn ra trong thời gian dài, anh C và chị M thƣờng xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, anh C có những lời lẽ xúc phạm, đe dọa và đánh chị M. Ngoài ra, anh C không tin tƣởng chị M nên ghen tuông vô cớ đã khiến tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, chị M đã về nhà mẹ ruột sống khoảng 06 tháng nay, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng chị M và anh C đã thật sự trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, chị M yêu cầu đƣợc ly hôn với anh C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Sau khi ly hôn, chị M và anh C đều có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng hai con chung tên Đỗ Thị Kiều A, sinh ngày 17/10/2009 và Đỗ Bảo A, sinh ngày 06/02/2018.

Xem xét điều kiện nuôi dƣỡng con chung của chị M và anh C thấy rằng: Chị M và anh C đều có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, cháu Đỗ Bảo A, sinh ngày 06/02/2018, tính đến tháng 9/2020 chƣa đủ 36 tháng tuổi, do đó việc giao cháu Đỗ Bảo A cho mẹ nuôi là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với cháu Đỗ Thị Kiều A, sinh ngày 17/10/2009, tại bản tự khai ngày 10/7/2020 thể hiện cháu có nguyện vọng đƣợc sống với mẹ. Mặt khác, cháu là con gái, đang trong độ tuổi phát triển, cần sự chăm sóc và dạy dỗ của mẹ. Do đó, yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng 02 con của chị M là có căn cứ. Anh C cho rằng chị M không đủ sức khỏe và điều kiện kinh tế để nuôi con nhƣng anh C không có chứng cứ chứng minh. Vì vậy, yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng hai con chung của anh C là không có cơ sở. Ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh C cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh B.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị M đối với bị đơn anh Đỗ Văn C về việc ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị M đƣợc ly hôn với anh Đỗ Văn C (theo giấy chứng nhận kết hôn số 28, do Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh N cấp ngày 25/3/2011).

- Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Đỗ Bảo A, sinh ngày 06/02/2018 cho chị Bùi Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Buộc anh Đỗ Văn C giao con chung tên Đỗ Thị Kiều A, sinh ngày 17/10/2009 cho chị Bùi Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh C cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Bùi Thị M và anh Đỗ Văn C có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Đỗ Văn C lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Bùi Thị M nuôi con thì chị M có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghin đồng ) án phí ly hôn, đƣợc khấu trƣ̀ hết vào tiền tạm ứng án phí đã

̀ nô ̣p theo biên lai số 0040628 ngày 02/6/2020 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sƣ̣ thành phố D, tỉnh B.

3. Các đƣơng sự đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ