- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 104/2019/HS-ST Ngày: 31/05/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thuý. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên, bà Phạm Thị Lan. - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuân- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đinh Nguyệt Hà- Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2019/QĐXXST-HS ngày 20/5/2019 đối với bị cáo: Lê Văn H, sinh năm 1994. ĐKHKTT: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở: Không cố định. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 10/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn K và bà Phạm Thị L. Có vợ là Hoàng Thị D và có 01 con. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2019 đến ngày 28/3/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt. * Người làm chứng: - Anh Lưu Văn T, sinh năm 1975. Trú quán: Thôn T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương. - Anh Lê Minh T, sinh năm 1991. Trú quán: Phòng 103 khu tập thể B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 8 giờ ngày 23/3/2019, Lê Văn H đi bộ ra khu vực ngã tư N, thành phố H mua của một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) 01 gói ma tuý đá
với số tiền 500.000đ rồi cất giấu trong người. Hà đi đến khu vực cầu 789 xã N, thành phố H và lấy một ít ma tuý ra sử dụng, phần ma tuý còn lại thì gói trong túi nilon để bán. Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, H đi đến đường thôn V, xã N, thành phố H thì gặp Vũ Văn Trường (tự khai ở khu 3, phường Cẩm Thượng, thành phố Hải Dương). Trường hỏi mua 400.000đ ma tuý tổng hợp, H đồng ý. Khi H và Trường đang giao nhận tiền và ma tuý thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ trên tay phải của H số tiền 400.000đ; thu giữ trên tay phải của Trường 01 túi nilon màu trắng, kích thước (1.5 x 1.5)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng. Tại kết luận giám định số 159/KLGĐ-PC09 ngày 25/3/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong bì thư ghi thu của Vũ Văn Trường gửi giám định có khối lượng 0,064 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Không hoàn lại mẫu vật sau giám định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lê Văn H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Không xác định được đối tượng bán ma túy cho H; Vũ Văn Trường đã bỏ trốn. Tại Cáo trạng số 96/CT-VKSTPHD ngày 14/5/2019, VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Lê Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (BLHS). Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội. Xử phạt Lê Văn H từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/3/2019. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000đ. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 23/3/2019, tại đường thôn V, xã N, thành phố H, tỉnh Hải Dương, Lê Văn H đang bán trái phép 0,064 gam Methamphetamine cho Vũ Văn Trường thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có năng lực
TNHS, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng việc dùng chất ma tuý mà mình mua được để bán cho người khác lấy tiền. Lượng ma tuý bị cáo bán trái phép là 0,064 gam Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Vì vậy VKSND thành phố Hải Dương truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật. [2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý đối với bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng TNHS. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo tác dụng giáo dục và mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả. [3] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [4] Về vật chứng: Số tiền 400.000đ thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. [5] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [6] Về tố tụng và các vấn đề khác: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp. Không xác định được đối tượng bán ma tuý cho bị cáo; Vũ Văn Trường đã bỏ trốn, cơ quan điều tra xác minh tại địa chỉ Trường khai nhưng không xác định được nên không có căn cứ xử lý. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội. 1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. 2. Xử phạt Lê Văn H 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/3/2019. 3. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 0số tiền 400.000đ (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2019 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
4. Buộc Lê Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. 5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: - VKSND TP. Hải Dương; - CQ CSĐT Công an TP. Hải Dương; - Phòng HSNV Công an TP. Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam, bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. Quách Thị Phương Thuý | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |