vanban.org

Bản án 104/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 09/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mầu X B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Mầu X B 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 14/6/2019. Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong có chữ ký của bị cáo và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có Heroine là mẫu giám định hoàn lại . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mầu Xuân Bình - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mầu X B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2019/HS-ST
Ngày 09/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Minh Tân và bà Lê Thị Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 111/2019/TLST- HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2019/QĐXXST- HS ngày 28/8/2019, đối với bị cáo:

MẦU X B, sinh ngày 13/4/1965 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: X8, xã T M, huyện Y S, tỉnh T Q; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Mầu Xuân Chính và bà Nguyễn Thị Tý; bị cáo có vợ là Đỗ Thị Tươi và có 01 con;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 11/5/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018);

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2019, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 06/6/2019, Mầu X B đang ngồi uống nước ở gần khu vực khách sạn Hà Tuyên thuộc tổ 10, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang thì gặp một người đàn ông (Bình không biết tên, địa chỉ). Qua nói chuyện, Bình đã hỏi và mua được của người đàn ông này 01 gói ma túy (Heroine) với giá 100.000đồng. Bình cất gói ma túy vào bao thuốc lá và để vào túi áo đang mặc trên người. Sau đó Bình đi tìm chỗ mua xi lanh, nước cất để sử dụng, đang trên đường đi thì bị tổ công tác Công an phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính vào hồi 10 giờ 40 phút cùng ngày, Bình đã giao nộp 01 gói ma túy (theo Bình khai đó là Heroine).

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Mầu X B, kết quả (+) dương tính (trong cơ thể Bình có chất ma túy, theo Bình khai Bình đã sử dụng vào ngày 04/6/2019).

Tại Kết luận giám định số 423/GĐKTHS ngày 07/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất chất bột vón cục màu trắng ngà thu giữ của Mầu X B gửi giám định là Hêrôin (Heroine), số thứ tự thứ 9 thuộc danh mục IA, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; khối lượng 0,035g (Không phẩy không ba năm gam).

Tại bản cáo trạng số 113/CT-VKSTP ngày 26 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Mầu X B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc tranh luận tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Mầu X B và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Mầu X B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Mầu X B từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 14/6/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có chữ ký của bị cáo và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có Heroine là mẫu giám định hoàn lại.

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không trình bày lời bào chữa, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung gì về các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Mầu X B tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Bị cáo khai: Bản thân là người sử dụng chất ma tuý; bị cáo cũng vừa chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 09/02/2018. Sau khi ra trại bị cáo vẫn sử dụng ma túy nên vào hồi 10 giờ 40 phút ngày 06/6/2019 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,035g (không phẩy không ba năm gam) Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Mặc dù hành vi tàng trữ 0,035g Heroine chưa đủ về khối lượng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà lại vi phạm. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì nhu cầu nghiện chất ma tuý của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện. Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự, đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản vi phạm hành chính, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khẳng định kết luận giám định số 423/GĐKTHS ngày 07/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang là khách quan, chính xác. Bản cáo trạng số 113/CT-VKS-TP ngày 26 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Do đó mức hình phạt mà đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung:

- Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng đây đã coi là tình tiết định tội nên không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

- Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định; không có tài sản gì có giá trị nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo vào ngày 04/6/2019, Công an thành phố Tuyên Quang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt cảnh cáo). HĐXX thấy như vậy là phù hợp.

Trong vụ án này còn có người đàn ông mà theo bị cáo khai nhận là người bán Heroine cho bị cáo nhưng không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét, giải quyết.

Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo:

- Về vật chứng: Đối với 01 phong bì đã niêm phong có chữ ký của bị cáo và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có Heroine là mẫu giám định hoàn lại là vật cấm tàng trữ và không sử dụng được nên tịch thu, tiêu huỷ;

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Mầu X B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Mầu X B 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 14/6/2019.

2. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong có chữ ký của bị cáo và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có Heroine là mẫu giám định hoàn lại .

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).

3. Căn cứ vào các Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Mầu X B phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Mầu X B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ