vanban.org

Bản án 104/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 20/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Phùng Võ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Phùng Võ L - 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (07/5/2019). Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 màu vàng nhạt, cùng sim số, ngoài sim có dãy số 8406-0193-495. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phùng Võ L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phùng Võ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI
--------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2019/HSST
Ngày: 20/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ánh Tuyết

2. Ông Phan Minh Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 20/9/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2019/HSXXST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Phùng Võ L; sinh năm 1985 tại Gia Lai; Nơi đăng ký HKTT: tổ 13, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở trước khi bị bắt: tổ 5, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình C, sinh năm 1958 và bà Phùng Thị N, sinh năm 1958; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1989 và 02 con sinh năm 2013 và năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai từ ngày 07/5/2019 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

* Người chứng kiến:

Ông Đặng Hữu L sinh năm 1957 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 5, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Phùng Võ L là người sử dụng ma túy. Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 07/5/2019, L có nhu cầu sử dụng ma túy đã điện thoại cho một người thanh niên tên H (Chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua một gói ma túy với giá 500.000đ, đồng ý và hẹn gặp L tại trước cổng công viên D, thuộc phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Sau đó L đến điểm hẹn gặp H nói với L: “Tiền đâu?”, L đưa cho H 500.000đ thì H chỉ cho L gói thuốc lá để ở dưới đất và nói: “Đồ đó”. L cầm gói thuốc lá lên mở ra thấy bên trong có 01 gói lilon có chứa ma túy đá. Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, L mang gói ma túy này về phòng số 406 Khách sạn H, đường Q, tổ 5, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai cất giấu để sử dụng thì bị lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố P phối hợp với công an phường I kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ của L 01 gói nilon bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể và một điện thoại di động hiệu Samsung J3 màu vàng nhạt, cùng sim số, ngoài sim có dãy số 8406-0193-495.

Qua trưng cầu giám định, tại Kết luận giám định số 362/KLGĐ ngày 16/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 gói nilon trong bì thư niêm phong gửi đi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2631 gam”.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 132/CT-VKS ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố Trần Phùng Võ L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

*Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 30; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Phùng Võ L từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù;

*Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại di động hiệu Samsung J3 màu vàng nhạt, cùng sim số, ngoài sim có dãy số 8406-0193-495.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn ghi số 362/PC09, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai.

Trước khi HĐXX nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ tội cho bị cáo sớm trở về với gia đình và chăm sóc vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại hồ sơ, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, HĐXX có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 07/5/2019, tại phòng số 406, Khách sạn H đường Q, tổ 5, phường I, TP.P, tỉnh Gia Lai, khi Trần Phùng Võ L đang cất giấu 0,2631 gam chất ma túy loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.P phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng; cùng một điện thoại di động L dùng để liên lạc mua ma túy.

Hành vi của bị cáo Trần Phùng Võ L mua, cất giấu 0,2631 gam chất ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất ma túy, Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Tệ nạn ma túy là một hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe của con người, làm suy thoái nòi giống dân tộc, băng hoại đạo đức và phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên Nhà nước có chính sách quản lý, kiểm soát chặt chẽ, nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng lao động, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được tác hại của tệ nạn ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu không lành mạnh của bản thân, đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi cất giấu chất ma túy để sử dụng. Do đó hành vi của bị cáo đã cấu thành tội phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy và phải chịu sự chế tài của pháp luật hình sự, theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Để có một hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đối với bị cáo, HĐXX nhận định: Bị cáo Trần Phùng Võ L có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Để đấu tranh và phòng ngừa với các tội phạm về ma túy, xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với đối tượng nam giới tên H mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 07/5/2019, nhưng L không biết họ tên, địa chỉ của đối tượng này, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản riêng, hành vi phạm tội không liên quan đến nghề nghiệp. Do đó HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 màu vàng nhạt, cùng sim số, ngoài sim có dãy số 8406-0193-495 bị cáo đã sử dụng liên lạc mua ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 362/PC09, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai, cần tịch thu tiêu hủy

Về tiền án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Phùng Võ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

-Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Phùng Võ L - 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (07/5/2019).

-Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017:

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 màu vàng nhạt, cùng sim số, ngoài sim có dãy số 8406-0193-495.

+ Tịch thu tiêu hủy:

01 phong bì niêm phong số 362/PC09, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2019 giữa Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai).

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Trần Phùng Võ L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ