- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "minh thành"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương.
- Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2019/DS-PT Ngày: 27 - 9 - 2019 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Bùi Hữu Nhân
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Vân
Ông Nguyễn Duy Hoài
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Võ Thị Kim Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2019/TLPT-DS ngày 24 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2019/DS-ST ngày 23/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 226/2019/QĐ-PT ngày 29/8/2019; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 241/2019/QĐ-PT ngày 19/9/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Minh, sinh năm: 1958;
Địa chỉ: 80/30A Đinh Tiên Hoàng, Tổ 2, Phường 1, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Minh:
Ông Bùi Việt Hùng, sinh năm: 1985;
Địa chỉ: 80/30A Đinh Tiên Hoàng, Tổ 2, Phường 1, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Văn bản ủy quyền ngày 27/6/2018.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Thành, sinh năm: 1971;
Bà Nguyễn Thị Hương, sinh năm: 1972;
Địa chỉ: 80/30B Đinh Tiên Hoàng, Tổ 2, Phường 1, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Ông Thành có mặt; bà Hương vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn Thành:
Ông Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm: 1967;
Địa chỉ: 28/1 Tây Sơn, Khu 3, Phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Văn bản ủy quyền ngày 09/9/2019 và ngày 24/9/2019.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Hương:
Ông Trần Văn Phú, sinh năm: 1974;
Địa chỉ: 60 Phan Đình Phùng, Phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Văn bản ủy quyền ngày 18/9/2019 và ngày 20/9/2019.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/. Ông Lê Xuân Trình, sinh năm: 1958;
Bà Nguyễn Thị Lân, sinh năm: 1964;
Địa chỉ: 340/12 Trần Phú, Tổ 13, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
2/. Ông Nghiêm Văn Thao, sinh năm: 1957;
Địa chỉ: 106A/4 Bùi Thị Xuân, Phường 1, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương - bị đơn.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
(Nguyên đơn, bị đơn và những người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Lê Thị Minh trình bày:
Ngày 04/4/2004, bà Lê Thị Minh và chồng là ông Nghiêm Văn Thao (hiện đã ly hôn) có nhận sang nhượng bằng giấy viết tay của vợ chồng ông Lê Xuân Trình và bà Nguyễn Thị Lân diện tích đất nông nghiệp 1.573m2 thuộc thửa đất số 566; đất thổ cư 250m2 thuộc thửa đất số 566a cùng tờ bản đồ E.111.IV tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc; tài sản gắn liền với đất là căn nhà xây lửng thưng ván, mái lợp tôn, nền láng xi măng, nhà bếp và công trình phụ.
Ngày 08/4/2008, bà Minh và ông Thao đã làm thủ tục tách thửa đất số 566 thành hai thửa là thửa đất số 929 với diện tích 300m2 và thửa đất số 930 với diện tích 1.273m2. Thửa đất số 929 bà Minh và ông Thao chuyển nhượng cho ông Nghiêm Công Thức (là con riêng của ông Thao).
Ngày 26/6/2008, ông Nghiêm Công Thức đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 929 cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương.
Ngay sau khi nhận chuyển nhượng thì vợ chồng ông Thành, bà Hương đã chuyển đến ở, một thời gian sau vợ chồng ông Thành, bà Hương tháo dỡ căn nhà cũ, xây nhà mới. Để thuận tiện cho việc xây nhà mới giữa bà Minh, ông Thao với vợ chồng ông Thành, bà Hương đã thỏa thuận hoán đổi đất cho nhau, dịch chuyển diện tích đất thửa 929 lên vị trí sát mép đường (đường đất 4m) đo về phía sau 30m; vợ chồng ông Thành, bà Hương đã nhất trí và đã xây nhà kiên cố từ khi mua đất cho đến nay, giữa hai bên không xảy ra tranh chấp gì.
Khoảng tháng 9/2014, sau khi bà Minh và ông Thao ly hôn, bà Minh được giao toàn quyền sử dụng diện tích 1.273m2 đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 930 tờ bản đồ E.111.IV tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc thì vợ chồng ông Thành, bà Hương đã thực hiện việc lấn chiếm đất của bà Minh diện tích 55m2 phía sau đuôi nhà của vợ chồng ông Thành, bà Hương. Sự việc đã được Ủy ban nhân dân Phường 1, thành phố Bảo Lộc hòa giải nhiều lần nhưng không thành.
Nay bà Minh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương có trách nhiệm tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và trả lại cho bà diện tích đất đã lấn chiếm là 55m2 thuộc một phần thửa đất số 929 tờ bản đồ E.111.IV tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương trình bày:
Hiện tại bị đơn sử dụng diện tích đất là 360m2 (36m x 10m). Tuy nhiên, phần đất dư đang sử dụng 72,5m2 theo kết quả đo vẽ ngày 02/5/2018 thuộc một phần thửa đất số 566a, đất quy hoạch lộ giới giao thông, còn thửa đất số 929 của bị đơn mới chỉ sử dụng có 28,7m chiều dài, còn thiếu 1,3m phía sau so với sổ đất đã được cấp.
Như vậy, bị đơn hoàn toàn không lấn chiếm đất của nguyên đơn vì nhà kiên cố bị đơn xây năm 2010 nằm hoàn toàn trên thửa đất số 929, còn phần đất dư phía trước thuộc một phần thửa đất số 566a chỉ mới làm sân, mái che lợp tôn và cổng để đảm bảo an ninh. Giữa nguyên đơn và bị đơn không có việc thỏa thuận hoán đổi dịch chuyển thửa đất cho nhau như nguyên đơn trình bày. Do đó, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân Trình, bà Nguyễn Thị Lân trình bày:
Năm 2004, ông bà có sang nhượng cho bà Lê Thị Minh và ông Nghiêm Văn Thao nhà và đất tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc, nội dung sang nhượng đã được thể hiện như trong giấy sang nhượng viết tay lập ngày 04/4/2004. Việc sang nhượng giữa hai bên đã thực hiện xong, bên sang nhượng đã nhận đủ tiền và bên nhận sang nhượng đã nhận nhà và đất để quản lý sử dụng. Nay xảy ra việc tranh chấp đất đai giữa bà Minh và ông Thành, bà Hương như thế nào thì ông bà không biết, quyền lợi của ông bà không bị ảnh hưởng nên không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nghiêm Văn Thao trình bày:
Nguyên trước đây ông Thao và bà Minh có mua căn nhà gỗ và thửa đất khoảng 1.200m2 tọa lạc tại số 80/30 Đinh Tiên Hoàng, Phường 1, thành phố Bảo Lộc của ông Lê Xuân Trình, bà Nguyễn Thị Lân. Sau đó, ông và bà Minh làm thủ tục tách thửa chuyển nhượng cho con trai ông là anh Nghiêm Công Thức đối với thửa đất số 930 (tách thửa 566 ra). Thửa 566a giáp đường đi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn nhà gỗ lúc đó cách mép đường khoảng 2m. Sau đó, anh Nghiêm Công Thức bán lại cho ông Thành, bà Hương nguyên hiện trạng từ căn nhà gỗ kéo xuống là 30m, chiều ngang là 10m, tổng diện tích là 300m2. Khi bàn giao đất các bên không lập văn bản giấy tờ, bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn giao đất là theo hiện trạng thực tế. Hiện nay, ông Thao và bà Minh đã ly hôn. Việc tranh chấp trong vụ án này không có ảnh hưởng gì đến quyền lợi của ông Thao nên ông không có yêu cầu gì.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2019/DS-ST ngày 23/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương.
Buộc ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương có trách nhiệm tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và trả lại diện tích đất lấn chiếm 55m2 thuộc một phần thửa đất số 929 tờ bản đồ E.111.IV tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng cho bà Lê Thị Minh (có bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất ngày 16/5/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bảo Lộc kèm theo).
Bà Lê Thị Minh, ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương có trách nhiệm đăng ký biến động về đất đai cho phù hợp với hiện trạng sử dụng.
Ngoài ra, quyết định của bản án còn tuyên về án phí, về chi phí tố tụng và trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Ngày 04/6/2019, bị đơn ông Thành, bà Hương kháng cáo không chấp nhận trả lại diện tích đất 55m2 thuộc một phần thửa đất số 929 tờ bản đồ E.111.IV tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc cho bà Lê Thị Minh.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 361/QĐKNPT-VKS-DS ngày 20/6/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh đối với diện tích đất 55m2 thuộc thửa đất số 930, tờ bản đồ E111.IV tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Thành và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Văn Tuấn; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Hương là ông Trần Văn Phú vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị chấp nhận kháng cáo. Nguyên đơn bà Lê Thị Minh, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Bùi Việt Hùng không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng và đề nghị giải quyết như bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, cụ thể:
Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân Trình, bà Nguyễn Thị Lân, ông Nghiêm Văn Thao đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Minh cho rằng bị đơn ông Thành, bà Hương có lấn chiếm của bà Hương diện tích đất 55m2 nên yêu cầu ông Thành, bà Hương phải có trách nhiệm tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và trả lại cho bà diện tích đất đã lấn chiếm là 55m2 thuộc một phần thửa đất số 929 tờ bản đồ E111.IV tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc. Còn bị đơn ông Thành, bà Hương thì lại cho rằng bị đơn không lấn chiếm đất của nguyên đơn nên không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Vì vậy, hai bên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương thì:
Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G421828 thì bà Nguyễn Thị Lân được Ủy ban nhân dân thị xã Bảo Lộc cấp diện tích đất 1.573m2 thuộc thửa đất số 566, tờ bản đồ số E111.IV tọa lạc tại Phường 1, thị xã Bảo Lộc. Đến ngày 08/4/2008, thửa đất số 566 được tách thành thửa đất số 929 và 930, trong đó thửa 929 có diện tích 300m2 chuyển nhượng cho hộ ông Nghiêm Công Thức (là con ông Nghiêm Văn Thao) theo hợp đồng số 138 do Ủy ban nhân dân Phường 1 chứng thực ngày 21/3/2008, diện tích đất 1.273m2 thuộc thửa đất số 930 còn lại của hộ ông Nghiêm Văn Thao (bút lục số 53).
Theo họa đồ ngày 16/5/2019 (bút lục số 189) thể hiện nội dung thửa đất 929 ông Thành, bà Hương nhận chuyển nhượng của ông Thức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 300m2 nhưng thực tế ông Thành, bà Hương đang sử dụng là 360m2, tăng 60m2. Thửa đất 930 thì bà Minh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.273m2 nhưng thực tế bà Minh sử dụng là 1.388m2. Phần diện tích đất đang tranh chấp là 55m2 được xác định thuộc một phần thửa đất số 929 theo hồ sơ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và hiện nay bị đơn ông Thành, bà Hương đang quản lý, sử dụng. Trong phần diện tích đất 360m2 mà hiện nay ông Thành, bà Hương đang trực tiếp quản lý, sử dụng thì có cả phần diện tích 50m2 thuộc một phần thửa đất số 566ª được xác định thuộc lộ giới đường quy hoạch. Bà Minh cũng xác nhận đang sử dụng phần diện tích đất giáp đường giao thông thuộc thửa đất số 566ª nay được cấp đổi thành thửa đất số 1185 với diện tích 153m2.
Bà Minh cho rằng khi bị đơn nhận sang nhượng của ông Thức thì hai bên có thỏa thuận với nhau dịch chuyển thửa đất lên phía sát đường và đo từ mép đường ra phía sau là 30m nên phần đất phía sau đang tranh chấp 55m2 là thuộc thửa 930; nhưng thực tế ông Thành, bà Hương vẫn sử dụng diện tích đất thửa 929 như đã được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/5/2008. Việc thỏa thuận dịch chuyển đất ra sát đường thì bà Minh không cung cấp được chứng cứ chứng minh còn phía bị đơn thì lại không thừa nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Minh lại khẳng định giữa các bên không có bất cứ sự thỏa thuận đổi đất nào nên có căn cứ khẳng định không có sự hoán đổi đất giữa hai hộ như bà Minh trình bày.
Trong tổng số diện tích đất mà hiện nay bị đơn ông Thành, bà Hương đang quản lý, sử dụng thì có phần diện tích đất 55m2 phía giáp đường đi thuộc đất lộ giới quy hoạch đường (thuộc một phần thửa đất số 566ª) chứ không thuộc thửa đất 929 và thửa đất 930. Như vậy, ông Thành, bà Hương đang quản lý, sử dụng diện tích đất thực tế 355m2 nhưng trong đó chỉ có 300m2 thuộc thửa đất số 929, tờ bản đồ số E111.IV tọa lạc tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 02/5/2008 cho ông Nghiêm Công Thức, sau đó ông Thức chuyển nhượng cho ông Thành, bà Hương và được đăng ký biến động vào ngày 26/6/2008.
Do hiện nay bà Minh đang quản lý, sử dụng diện tích đất dư 115m2 so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Trong khi đó, bị đơn ông Thành, bà Hương đang quản lý sử dụng tính cả diện tích đất thuộc lộ giới thì mới là 355m2, nếu trừ diện tích đất thuộc quy hoạch lộ giới 55m2 (phần đất này thuộc một phần thửa đất số 566ª) thì thực tế bị đơn sử dụng diện tích đất 300m2 tương đương so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nên việc nguyên đơn bà Minh khởi kiện buộc bị đơn ông Thành, bà Hương trả lại diện tích đất 55m2 được xác định thuộc thửa đất số 929 theo họa đồ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bảo Lộc xác lập vào ngày 16/5/2019 (bút lục số 189) là không có căn cứ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn là không đúng pháp luật.
Với những phân tích trên, cần chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Thành, bà Hương; chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng để sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên bà Lê Thị Minh phải chịu số tiền chi phí tố tụng là 7.354.000 đồng.
Về án phí sơ thẩm: Bà Minh sinh năm 1958 (bà Minh đã 61 tuổi) là công dân Việt Nam, thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên bị đơn ông Thành, bà Hương không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bị đơn ông Thành, bà Hương số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 - Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương.
- Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Sửa bản án dân sự sơ thẩm. Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương đối với diện tích đất 55m2 thuộc thửa đất số 929, tờ bản đồ số E.111.IV tại Phường 1, thành phố Bảo Lộc theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kí hiệu số AM 472348 do UBND thị xã Bảo Lộc cấp ngày 02/5/2008 cho ông Nghiêm Công Thức (đã đăng ký biến động sang tên cho ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương ngày 26/6/2008.
2. Về chi phí tố tụng khác: Bà Lê Thị Minh phải chịu số tiền là 7.354.000 đồng. Bà Minh đã nộp đủ và được quyết toán xong.
3. Về án phí dân sự (sơ thẩm và phúc thẩm):
Bà Lê Thị Minh được miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Lê Thị Minh số tiền 375.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002151 ngày 16/01/2018 và số tiền 2.125.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002373 ngày 23/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Hương số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0005475 ngày 14/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoài
Lê Thị Vân
Bùi Hữu Nhân Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Phòng KTNV&THA;
- TAND thành phố Bảo Lộc;
- Chi cục THADS thành phố Bảo Lộc;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bùi Hữu Nhân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoài
Lê Thị Vân
Bùi Hữu Nhân Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Phòng KTNV&THA;
- TAND thành phố Bảo Lộc;
- Chi cục THADS thành phố Bảo Lộc;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bùi Hữu Nhân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoài
Lê Thị Vân
Bùi Hữu Nhân
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV&THA; - TAND thành phố Bảo Lộc; - Chi cục THADS thành phố Bảo Lộc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hữu Nhân |