vanban.org

Bản án 104/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 14/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hoàng Thị P-Lê Thị H"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2019/DS-PT
Ngày 14-11-2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Ng y n Hồng Thái

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thiên Hương

Bà Đoàn Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Ng y n Thị Th Phương - Thư ký T a án nhân dân

t nh B nh Th n

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh nh Th n tham gia phiên tòa: Bà

Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2019 t i tr s T a án nhân dân t nh B nh Th n xét

xử phúc thẩm công khai v án th lý số: 110/2019/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm

2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2019/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2019 của

Tòa án nhân dân h yện Đức Linh bị kháng cáo.

Theo Q yết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 221/2019/QĐ-PT ngày 01

tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1943

Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Hoa T, sinh năm 1940 – là người đ i

diện theo ủy q yền (theo văn bản ủy q yền ngày 17/4/2019)

Cùng địa ch : số 31 đường NĐC, kh phố M, thị trấn ĐT, h yện ĐL, t nh BT

- Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1972

Địa ch : số 46 đường NT, tổ 8, kh phố T, thị trấn ĐT, h yện ĐL, t nh BT

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hoàng Hoa T, sinh năm 1940

Địa ch : số 31 đường NĐC, kh phố M, thị trấn ĐT, h yện ĐL, t nh BT

2. Ông Lê Văn C, sinh năm 1972

Địa ch : số 46 đường NT, tổ 8, kh phố T, thị trấn ĐT, h yện ĐL, t nh BT

- Người kháng cáo: Bị đơn – bà Lê Thị H.

T i phiên t a có mặt ông T, bà H và ông C.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn - bà Hoàng Thị P (do ông Hoàng Hoa T làm đại diện và là

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày:

Vào năm 2008, bà Hoàng Thị P (vợ ông T) có cho bà Lê Thị H vay

2.500.000đồng và 06 ch vàng 24K, m c đích vay là dùng để chữa bệnh cho ông Lê Văn C (chồng bà H). Khi vay, hai bên có l p giấy vay tiền viết tay, nhưng do thời gian đã lâ nên giấy vay tiền bị thất l c. Từ năm 2010 đến tháng 02/2017, vợ chồng bà H có trả được 02 ch vàng 24K, trả thành nhiề lần, tiền lãi mỗi tháng vợ chồng bà H đã trả là 100.000đồng. T y nhiên, từ tháng 11/2018 cho đến nay do t ổi già sức yế nên bà P không đến nhà bà H lấy tiền lãi được. Vợ chồng bà P đã nhiề lần đến nhà để yê cầ trả nợ nhưng vợ chồng bà H cứ hứa hẹn mà không chị trả. Để có chứng cứ cho việc kh i kiện, vào khoảng 20 giờ ngày 03/12/2018, con gái của vợ chồng bà P là bà Hoàng Thị Thùy L và chá Ph m Thị Hoàng H (con gái bà Thùy L) đến nhà vợ chồng bà Lê Thị H tiến hành ghi âm để xác nh n l i số tiền và vàng mà bà H hiện đang c n nợ của vợ chồng bà Hoàng Thị P là bao nhiêu. Qua c ộc tr ch yện giữa bà Hoàng Thị Thùy L và bà Lê Thị H thì bà H đề xác nh n là c n nợ l i bà P 2.500.000đồng và 04 ch vàng 24K.

Ông Hoàng Hoa T đề nghị Hội đồng xét xử giải q yết b ộc bà Lê Thị H và

ông Lê Văn C phải có nghĩa v liên đới trả l i cho vợ chồng ông số tiền nợ vay 2.500.000đồng và 04 ch vàng 24K, không yê cầ tính lãi s ất.

Bị đơn bà Lê Thị H trình bày: Bà có vay của bà Hoàng Thị P số tiền

2.500.000đồng và 04 ch vàng 24K, thời điểm bắt đầ vay từ năm 1997. Tiền lãi hàng tháng bà phải trả cho bà P là 170.000đồng, bà trả tiền lãi kể từ khi vay đến năm 2018. Khi vay th hai bên không l p giấy tờ g , đến khoảng 10 năm sa mới viết giấy tờ vay. Sa khi vay th bà có trả cho bà P được 02 ch vàng 24K (năm 2015 trả 01 ch và năm 2016 trả 01 ch ). Khi trả 02 ch vàng th bà ghi ch ng vào giấy nợ do bà P giữ. Sa đó đến ngày 26/01/2017, bà trả tiếp năm phân vàng (tức 0,5 ch vàng), tổng cộng bà đã trả được 2,5 ch vàng 24K. Sa khi trả bớt số vàng thì bà có xin bà P giảm tiền lãi từ 170.000đồng/tháng x ống c n 100.000 đồng/tháng, thời điểm bắt đầ trả lãi là từ năm 2017 đến tháng 12/2018 th không

trả tiền lãi nữa. Khi trả bớt số vàng và trả tiền lãi th bà không yê cầ bà P viết

biên nh n cho bà.

Bà thừa nh n tiếng nói trong bản ghi âm do ng yên đơn c ng cấp và người

ghi âm bà Hoàng Thị Thùy L th chính là tiếng nói của bà. Việc ghi âm vào ngày

nào th bà không rõ, bà ch nhớ khoảng tháng 12/2018, ghi âm vào khoảng 18 giờ

t i ph ng khách nhà bà. Trong bản ghi âm bà thừa nh n có nợ bà P 04 ch vàng 24K

và 2.500.000đồng, nhưng bà đã trả cho bà P được 2,5 ch vàng nên hiện t i ch c n

nợ bà P 1,5 ch vàng 24K và số tiền 2.500.000đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C trình bày: Trước

đây, vợ ông là bà Lê Thị H có vay tiền của bà Hoàng Thị P, sa khi vay th ông mới

biết, số tiền vợ ông vay được là để làm ăn chăm lo kinh tế cho gia đ nh. Việc bà H

vay bao nhiê tiền và trả được bao nhiê th ông không biết, v chi tiê trong gia

đ nh do vợ ông q ản lý nên ông không rõ việc vay mượn của bà H. Khi bà Hoàng

Thị Thùy L đến nhà vợ chồng ông để tiến hành ghi âm th ông hoàn toàn không

biết. Nay bà H xác định ch c n nợ l i 1,5 ch vàng 24K và số tiền 2.500.000đồng

và đồng ý trả cho vợ chồng bà Hoàng Thị P th ông cũng thống nhất và đồng ý liên

đới cùng bà H để trả nợ.

Người làm chứng bà Hoàng Thị Thùy L trình bày: Bà là con gái của bà Hoàng

Thị P và ông Hoàng Hoa T. Ng yên trước đây vào năm 2008, mẹ bà có cho bà Lê

Thị H vay số tiền 2.500.000đồng và 06 ch vàng 24K. Nhưng v lâ ngày cho nên

giấy tờ bị thất l c nên mẹ bà nhờ bà ghi âm nói ch yện với bà H để làm căn cứ

chứng minh. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/12/2018, bà và con gái là Ph m

Thị Hoàng H nh đến nhà vợ chồng bà Lê Thị H để nói ch yện về số tiền và vàng

mà bà H nợ của bà Hoàng Thị P. Bà ghi âm bằng điện tho i, t i b ổi nói ch yện có

bà, bà H và con gái bà H, việc ghi âm được thực hiện t i ph ng khách nhà bà H.

Q a nhiề lần hỏi và trả lời, c ối cùng bà Lê Thị H xác nh n là hiện c n nợ của bà

Hoàng Thị P số tiền 2.500.000đồng và 04 ch vàng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2019/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2019 của

Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã quyết định:

Căn cứ vào: khoản 3 Điề 26, điểm a khoản 1 Điề 35, điểm a khoản 1 Điề

39, Điề 93, Điề 94, khoản 2 Điề 95, Điề 147 và khoản 1 Điề 273 của Bộ l t

tố t ng dân sự; Điề 463, 466 và khoản 2 Điề 468 Bộ l t dân sự 2015; Điề 27,

Điề 30 và Điề 37 của L t hôn nhân và gia đ nh; Nghị q yết số 01/2019/NQ-

HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán T a án nhân dân tối cao; Điểm b

khoản 1 Điề 24, Điề 26 Nghị q yết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban Thường v Q ốc hội q y định về mức th , mi n, giảm, th , nộp, q ản

lý và sử d ng án phí và lệ phí T a án; Điề 26 L t Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nh n yê cầ kh i kiện của ng yên đơn.

B ộc bà Lê Thị H và ông Lê Văn C phải trả cho bà Hoàng Thị P và ông

Hoàng Hoa T số tiền là 2.500.000đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) và 04 (bốn) ch vàng 24K.

Kể từ ngày bản án có hiệ lực pháp l t, bà Hoàng Thị P và ông Hoàng Hoa T

có đơn yê cầ thi hành án đối với số tiền bà Lê Thị H và ông Lê Văn C phải thanh toán nêu trên, thì bà H và ông C c n phải chị lãi theo mức lãi s ất q y định t i khoản 2 Điề 468 Bộ l t dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền c n phải thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm c n q yết định về án phí, q yền kháng cáo, q yền

và nghĩa v thi hành án của các đương sự.

Sa khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/9/2019, bị đơn kháng cáo một phần bản án sơ

thẩm về số vàng, ch đồng ý trả cho ng yên đơn 1,5 ch vàng 24K.

T i phiên t a phúc thẩm:

- Người kháng cáo – bị đơn Lê Thị H giữ ng yên yê cầ kháng cáo và có ý

kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nh n yê cầ kháng cáo của bị đơn.

- Người đ i diện hợp pháp của ng yên đơn và là người có q yền lợi, nghĩa v

liên quan – ông Hoàng Hoa T có ý kiến: Sa khi xét xử sơ thẩm, vợ chồng ông đã t m được giấy cho vay vàng, tiền và giấy xác nh n trả vàng, trong các giấy này xác định vợ chồng bà H đã vay 6 ch vàng 24K và 2.500.000đồng, đã trả được 2,5 ch vàng, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Kiểm sát viên phát biể q an điểm về việc giải q yết v án:

+ Về tố t ng: T a án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng tr nh tự, thủ t c theo

q y định của pháp l t trong q á tr nh giải q yết v án.

+ Về nội d ng: Do ng yên đơn x ất tr nh tài liệ xác định vợ chồng bị đơn có

vay 06 ch vàng 24K, đã trả 2,5 ch vàng 24K, c n nợ 3,5 ch vàng 24K; Bị đơn kháng cáo cho rằng ch vay 04 ch vàng 24K, đã trả 2,5 ch vàng 24K nhưng không đưa ra được tài liệ , chứng cứ g chứng minh ch vay 04 ch vàng 24K, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điề 308 Bộ l t tố t ng dân sự, chấp nh n một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng t yên b ộc vợ chồng bị đơn trả cho vợ chồng ng yên đơn 3,5 ch vàng 24K và 2.500.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệ có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra t i

phiên t a phúc thẩm; trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệ , chứng cứ, ý kiến tr nh bày và tranh l n t i phiên t a của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nh n thấy:

[1] Bị đơn Lê Thị H kháng cáo nhưng không x ất tr nh được tài liệ , chứng

cứ g xác định vợ chồng bà ch vay của vợ chồng bà Hoàng Thị P, ông Hoàng Hoa T

04 ch vàng 24K.

[2] Trong khi đó, t i phiên t a phúc thẩm hôm nay, ông Hoàng Hoa T x ất

tr nh chứng cứ mới là “Giấy mượn tiền” ghi tên người cho vay là vợ chồng ông

Hoàng Hoa T, người vay là vợ chồng bà Lê Thị H, nội d ng thể hiện vợ chồng bà H

đã vay của vợ chồng ông T 06 ch vàng 24K và 2.500.000đồng. Bà Lê Thị H thừa

nh n chữ ký trong giấy này là của bà.

[3] V v y, đủ cơ s để khẳng định vợ chồng bà Lê Thị H, ông Lê Văn C có

vay của vợ chồng bà Hoàng Thị P, ông Hoàng Hoa T 06 ch vàng 24K và

2.500.000đồng như lời khai của phía ng yên đơn.

[4] T y nhiên, theo lời khai của ông T th sa khi xét xử sơ thẩm do có kháng

cáo của bà H nên vợ chồng ông đã l c t m th thấy giấy xác nh n thể hiện bà Lê Thị

H có trả cho vợ chồng ông T thêm 0,5 ch vàng 24K vào ngày 26/01/2017, ngoài số

vàng 02 ch 24K đã trả và thừa nh n vợ chồng bà H đã trả được tổng cộng 2,5 ch

vàng 24K, nên ch c n nợ 3,5 ch vàng 24K và 2.500.000đồng.

[5] Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nh n một phần kháng cáo của

bị đơn, như thừa nh n của phía ng yên đơn và sửa bản án dân sự sơ thẩm về số vàng

vợ chồng bị đơn phải trả cho ng yên đơn như đề nghị của Kiểm sát viên t i phiên

tòa.

[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nh n một phần về số vàng vợ chồng

bị đơn phải trả cho ng yên đơn, nên Hội đồng xét xử sửa phần án phí sơ thẩm vợ

chồng bị đơn phải chị tương ứng với số vàng, tiền vợ chồng bị đơn phải trả cho vợ

chồng ng yên đơn theo q y định t i khoản 2 Điề 26 Nghị q yết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Q ốc hội. Về án

phí dân sự phúc thẩm, vợ chồng bị đơn không phải chị theo q y định t i khoản 2

Điề 148 Bộ l t Tố t ng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 2 Điề 148, khoản 2 Điề 308, khoản 2 Điề 309 Bộ l t

Tố t ng dân sự;

1. Chấp nh n một phần kháng cáo của bị đơn Lê Thị H; Sửa bản án dân sự sơ

thẩm số 38/2019/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2019 của T a án nhân dân h yện Đức

Linh về số vàng vợ chồng bị đơn phải trả cho vợ chồng ng yên đơn và về án phí dân

sự sơ thẩm.

Áp dụng: Điề 463, Điề 466 và khoản 2 Điề 468 Bộ l t dân sự 2015; Điề

27, Điề 30 và Điề 37 L t hôn nhân và gia đ nh; khoản 2 Điề 26 Nghị q yết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Q ốc hội; Điề 26 L t Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

- B ộc bà Lê Thị H và ông Lê Văn C phải trả cho bà Hoàng Thị P và ông

Hoàng Hoa T 3,5 ch vàng 24K và 2.500.000đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệ lực pháp l t, bà Hoàng Thị P và ông Hoàng Hoa

T có đơn yê cầ thi hành án đối với số tiền bà Lê Thị H và ông Lê Văn C phải thanh toán nêu trên, thì bà H và ông C c n phải chị lãi theo mức lãi s ất q y định t i khoản 2 Điề 468 Bộ l t dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền c n phải thi hành án.

- Về án phí sơ thẩm: B ộc bà Lê Thị H và ông Lê Văn C phải chị

825.000đồng (Tám trăm, hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn Lê Thị H không phải chị án phí dân sự phúc

thẩm. Hoàn l i cho bị đơn Lê Thị H 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền t m ứng án phí phúc thẩm theo biên l i th số 0025642 ngày 09/9/2019 của Chi c c Thi hành án dân sự h yện Đức Linh.

3. Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2019/DS-ST ngày 16

tháng 8 năm 2019 của T a án nhân dân h yện Đức Linh không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệ lực pháp l t kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệ lực pháp l t kể từ ngày t yên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo q y định t i Điề 2 L t thi thành án

dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có q yền thỏa th n thi hành án, q yền yê cầ thi hành án, tự ng yện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo q y định t i các Điề 6, 7, 7a, 7b và 9 L t Thi hành án dân sự. Nơi nh n:

Cỡ chữ