- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hàng Thị S - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hàng Thị S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 104/2018/HSST Ngày 17 – 5 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Hoan và ông Trần Xuân Thành.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Hàng Thị S, sinh năm: 1967 tại huyện V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu X, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Giàng A S và bà Tráng Thị C (Đều đã chết); có chồng là Hàng A D và có 05 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 103/2011/HSST ngày 23/3/2011 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07 tháng 02 năm 2018 đến nay; có mặt.
Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng Hà Văn T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/02/2018 Hà Văn T mang theo số tiền 150.000đ đi bộ đến nhà Hàng Thị S để nhờ S đi mua 02 viên Methamphetamine với giá 100.000đ, còn 50.000đ là tiền công, S đồng ý. S cầm tiền đi ra đường dân sinh thuộc Tiểu khu X, thị trấn N, huyện M đã hỏi và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi bán cành đào 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng bên trong đựng 02 viên Methamphetamine với giá 100.000đ. S cầm gói ma túy đi bộ về nhà, trên đường về S đi vào cửa hàng tạp hóa mua bánh cho cháu hết 20.000đ, còn 30.000đ S cất vào trong túi đeo ở cạp váy đi về nhà. Khi về đến nhà S đưa cho T gói ma túy rồi đi vào trong buồng ngủ để nghỉ. T ở ngoài phòng khách tự ý bỏ gói ma túy ra sử dụng, khi T vừa sử dụng hết thì tổ công tác Công an huyện Mộc Châu tiến hành kiểm tra, T và S đã tự giác khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, S tự giác giao nộp số tiền 30.000đ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 61/CT-VKSMC ngày 04/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Hàng Thị S về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hàng Thị S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hàng Thị S từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng). Truy thu của bị cáo 20.000đ (Hai mươi ngàn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và 01 mảnh nilon màu hồng.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Hàng Thị S khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 05 phút ngày 07/02/2018; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định tiền và niêm phong lại vật chứng; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 07/02/2018 Hàng Thị S đã có hành vi bán trái phép 02 viên Methamphetamine cho Hà Văn T với giá 150.000đ, mục đích để kiếm lời 50.000đ. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên vẫn thực hiện. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và 01 mảnh nilon màu hồng đều không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 30.000đ là tiền do Hàng Thị S phạm tội mà có cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền bị cáo đã chi tiêu không thu giữ được, cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Hàng Thị S ngày 07/02/2018 (như bị cáo khai). Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Văn T tại nhà của Hàng Thị S. Quá trình điều tra xác định T tự ý bỏ 02 viên Methamphetamine ra sử dụng S hoàn toàn không biết, do đó không xử lý về hình sự đối với S về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T là vi phạm hành chính, ngày 23/02/2018 Công an huyện Mộc Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp, do đó không đề cập đến việc giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại trên 45 ngày, Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam sau khi xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hàng Thị S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hàng Thị S 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 07/02/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng).
Truy thu của bị cáo 20.000đ (Hai mươi ngàn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và 01 mảnh nilon màu hồng.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Hàng Thị S phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đỗ Như Khánh |