vanban.org

Bản án 104/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 07/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THẾ A - MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!VĨNH!YÊN!
TỈNH!VĨNH!PHÚC!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2018/HS-ST
Ngày 07 tháng 9 năm 2018!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!VĨNH!YÊN,!TỈNH!VĨNH!PHÚC!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Quách Thị Hoàng Giang.

Các Hội thẩm Nhân dân: - Ông Sái Văn Trọng;

- Bà Đỗ Thị Nga.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền, Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2018, tại nhà văn hóa Phố Núi, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn!Thế!A, sinh ngày 18/8/1995 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Phùng Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Tại bản án số 209/HSST ngày 29/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Thế A 05 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em. Nguyễn Thế A chấp hành xong hình phạt, được đặc xá ra trại ngày 01/12/2016. Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo đã chấp hành xong vào tháng 5/2015, tiền sự: Quyết định số 1520 ngày 17/4/2018 của Công an phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Thế A về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy với mức phạt 1.500.000đ. Ngày 18/4/2018, Thế A đã nộp phạt xong; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2018 cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1986; nơi cư trú: Xóm C, xã Đ, thành phố V , tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/5/2018, tại ngã tư Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tổ công tác Phòng chống tội phạm về ma túy, Công an thành phố Vĩnh Yên phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thế A đang có hành vi bán trái phép chất ma túy đá cho đối tượng nghiện ma túy là Hoàng Văn D.

Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ tại tay phải của D 01 gói nilon nhỏ bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng (D khai nhận là ma túy đá vừa mua được của Thế A ), niêm phong 01 gói ma túy vào phong bì thư theo quy định của pháp luật, ký hiệu A1. Thu giữ tại tay phải của Thế A số tiền 300.000đ (Thế A khai nhận là tiền vừa bán ma túy cho D mà có). Tạm giữ của Thế A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel đã cũ; tạm giữ của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ.

Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Vĩnh Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thế A tại phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả khám xét: không thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số: 705/KLGĐ ngày 03/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Tinh thể dạng đá màu trắng có mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy Methamphetamine. Khối lượng là 0,0851 gam (không phảy không tám năm một gam, không kể bao bì). Khối lượng Methamphetamine có trong 0,0851 gam mẫu là 0,0607 gam (không phảy không sáu không bảy gam)”. Hoàn trả trực tiếp cho cơ quan trưng cầu giám định gồm: 0,000 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

Về nguồn gốc 01 gói ma túy bán cho D , Nguyễn Thế A khai nhận đã mua của một người phụ nữ tên Thúy (không biết rõ họ, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy đá với giá 500.000đ. Sau đó, Thế A đem gói ma túy về nhà lấy một phần để sử dụng cho bản thân, phần còn lại Thế A cất giấu trong người để nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Ngày 30/5/2018, Thế A đã bán gói ma túy trên cho D như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 107/CT-VKSNDVY ngày 15/8/2018, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Nguyễn Thế A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế A khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/5/2018, tại khu vực ngã tư Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, D đang trao đổi mua ma túy đá của Thế A để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ tang vật (bút lục 15 và từ bút lục 70-76).

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên (bút lục 78 -82).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong ma túy hoàn trả sau giám định; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ thu giữ của Thế A là tiền do phạm tội mà có; Tịch thu để bán sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của Thế A và D , gồm 01 chiếc nhãn hiệu Nokia và 01 chiếc nhãn hiệu Vietel là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

Bị cáo Nguyễn Thế A không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thế A tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 30/5/2018, tổ công tác Phòng chống tội phạm về ma túy, Công an thành phố Vĩnh Yên làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư Quán Tiên thuộc phố Quán Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thế A đang bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Văn D. Thu giữ 01 gói nilon nhỏ bên trong có 0,0851 gam các hạt tinh thể dạng đá màu trắng qua giám định có chất ma túy Methamphetamine, trọng lượng ma túy Methamphetamine trong mẫu vật giám định là 0,0607 gam. Quá trình điều tra, Thế A khai nhận mục đích bán số ma túy trên cho D để kiếm lời.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thế A đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 7 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng

Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, bản thân có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân để làm ăn chân chính, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ là thu lời bất chính, hiện tại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Lần phạm tội này bị cáo có 01 tiền án hiện chưa được xoá án tích, do vậy lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm minh. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Thông qua vụ án này cũng nhắc nhở mọi người tham gia phiên tòa và theo dõi phiên tòa lưu động cần nâng cao cảnh giác để tích cực phát hiện và đấu tranh phòng ngừa tệ nạn ma túy. Hãy nói không với ma túy để dần dần loại bỏ hoàn toàn tệ nạn ma túy trong đời sống của chúng ta. Đây cũng là bài học đắt giá đối với bị cáo và với những người không chịu tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu làm ăn chân chính, ham chơi đua đòi dẫn đến không kiểm soát được bản thân. Xã hội luôn lên án và bài trừ các tệ nạn xã hội, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh đối với mọi hành vi, vi phạm pháp luật.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên, đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Đối với các người có liên quan đến vụ án gồm: Đối với người phụ nữ tên Thúy đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Thế A vào ngày 29/5/2018, quá trình điều tra, bị cáo khai không biết họ, tuổi, địa chỉ của người phụ nữ trên. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an phường Ngô Quyền để xác định người phụ nữ có đặc điểm theo mô tả của bị cáo, tuy nhiên chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Vĩnh Yên tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Hoàng Văn D là người có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy Methemphetamine với khối lượng 0,0851 gam. Vì vậy không đủ định lượng để cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/6/2018 Công an thành phố Vĩnh Yên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với D với mức phạt 1.500.000đ là đúng quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 300.000đ thu giữ của bị cáo Nguyễn Thế A, quá trình điều tra xác định: số tiền trên do bị cáo bán ma túy cho D mà có, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 500.000đ bị cáo dùng để mua ma túy của Thúy vào ngày 29/5/2018, bị cáo khai nhận là tiền do lao động tích cóp mà có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét xử lý tiếp.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vietel thu giữ của Thế A khi bắt quả tang, quá trình điều tra xác định, Thế A và D đã sử dụng 02 chiếc điện thoại trên để liên lạc trao đổi mua bán ma túy, là công cụ thực hiện việc phạm tội nên cần tịnh thu để bán sung quỹ nhà nước.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, bị cáo là người không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Đối với các vật chứng là ma túy và bao gói ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 300.000đ bị cáo thu lợi được từ việc bán ma túy cho D ngày 30/5/2018 cần truy thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của Bị cáo Nguyễn Thế A và D , gồm 01 chiếc nhãn hiệu Nokia và 01 chiếc nhãn hiệu Vietel là công cụ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu để bán sung công quỹ Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 03(ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/5/2018).

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong ma túy hoàn trả sau giám định; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ thu giữ của bị cáo Nguyễn Thế A là tiền do phạm tội mà có; tịch thu để bán sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của Thế A và D , gồm 01 chiếc nhãn hiệu Nokia và 01 chiếc nhãn hiệu Vietel là công cụ sử dụng vào việc phạm tội. (Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 15/8/2018).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thế A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa của bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Nơi!nhận:!

Cỡ chữ