- Tranh chấp gì? án hình sự — "Công nhiên chiếm đoạt tài sản - phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 172 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: NGUYỄN GIANG S phạm tội “Công nhiêm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 172 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 104/2018/HSST Ngày: 13/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦA NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Hoà
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Vũ Kim Ngọc
- Bà Nguyễn Thị Hương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Việt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 13 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2018/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/QĐXXST ngày 01 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
NGUYỄN GIANG S; sinh ngày 13/6/1979 tại Hà Nội; hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số 5E ngõ 42 đường V, phường B, quận T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: (không); trình độ văn hoá: 10/12; con ông: Nguyễn Văn B (đã chết) và bà: Đinh Thị O; vợ: Trần Mỹ N và có 02 con (lớn 07 và nhỏ 05 tuổi).
Danh chỉ bản số 166 lập ngày 28/02/2018, tại Công an quận Hoàn K, Thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự : (không)
Tạm giữ: 24/02/2018; hủy bỏ tạm giữ: 02/3/2018 - (Có mặt)
* Người bị hại: Anh Lê Quốc G; sinh năm 1972; trú tại: Số 29 ngõ 341 phố V, phường Đ, quận T, Hà Nội - (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 01h00 ngày 21/02/2018, Nguyễn Giang S đi từ nhà đến ngã ba Đ - D, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội, thấy anh Lê Quốc G và Đ “đen” (hiện chưa xác định được căn cước) đang ngồi uống bia với nhau nên cũng tham gia. Do hết bia nên anh G điều khiển xe máy Honda Wawe màu đỏ biển số 29B1- 685.10 chở S đi mua bia nhưng không mua được nên quay lại thì thấy T “mèo” (hiện không xác định được căn cước) và Phạm Văn H (tức H tiếp) đang ngồi uống nước còn Đ không thấy đâu. Anh G đến giật lon nước ngọt của H rồi mời H và T uống bia nhưng bị từ chối. Thấy anh G say rượu nên H đứng dậy định bỏ đi thì bị anh G kéo lại nên H dùng tay đánh và đẩy anh G ngã xuống đất. Lúc này, S vẫn ngồi trên xe máy của anh G (chìa khóa vẫn cắm trong ổ), thấy anh G đang bị đánh không quản lý được tài sản nên đã nổ máy điều khiển xe đi theo hướng đê K. Đến khu vực cửa khẩu B, S giấu xe vào gầm cầu thang đi bộ rồi khóa xe máy, tháo gương và cầm theo 01 chiếc mũ bảo hiểm trên xe đi về nhà. Trên đường đi S vứt 02 chiếc gương xe máy (không xác định được vị trí) còn chiếc mũ bảo hiểm mang về nhà cất. Sau đó S gọi điện cho K (hiện không xác định được căn cước) hẹn gặp nhau tại đầu cầu C với mục đích đổi xe máy mà S chiếm đoạt được của anh G lấy ma túy. Khi gặp K, S đưa xe máy cho K và bảo K tháo biển kiểm soát, đổi màu xe đi tạm. K đồng ý và đưa cho S 40.000 đồng để S đi xe ôm. Đến 04h00 cùng ngày, K đến nhà đưa cho S 01 hộp ma túy loại Ketamine giá trị khoảng 3.000.000 đồng. S đã sử dụng hết số ma túy nêu trên.
Theo kết luận định giá: Chiếc xe mô tô Honda Wave màu đỏ đen biển số 29B1-685.10 giá trị 14.500.000 đồng.
Ngày 24/02/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã bắt khẩn cấp Nguyễn Giang S. Thu giữ của Nguyễn Giang S 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen. Chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ đen biển số 29B1-685.10 hiện chưa thu hồi được.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Giang S thành khẩn khai nhận hành vi như đã nêu trên. Ngoài ra, S khai quen K từ trước, K biết S hay “nhảy” xe (tức là trộm xe) nên tìm S để hỏi mua xe. S không bàn bạc với K việc chiếm đoạt xe máy của anh G.
Trong quá trình điều tra, ngày 26/02/2018 chị Trần Mỹ N (vợ của Nguyễn Giang S) đã nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
Anh Lê Quốc G khai: Ngày 21/02/2018 trước khi chở khách đi xe ôm và gặp S thì anh đã uống rượu nên không tỉnh táo. Khi bị anh H đánh ngã anh có nhìn thấy S điều khiển xe máy của anh chạy về hướng đê K. Anh bị thương tích: 01 vết bầm tím phía sau gáy bên phải, có một số vết bầm tím ở lưng nhưng anh G từ chối giám định thương tích. Tài sản của anh bị chiếm đoạt là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen biển số 29B1- 685.10. Ngoài ra, anh G khai bị mất một chiếc ví bên trong có 1.800.000 đồng và giấy tờ tùy thân.
Ngày 16/3/2018 Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh G số tiền 10.000.000đồng và 01 mũ bảo hiểm màu đen. Sau khi nhận lại tài sản anh G yêu cầu S phải bồi thường nốt cho anh số tiền 4.500.000 đồng. Về chiếc ví có 1.800.000 đồng và giấy tờ bị mất ; anh G khai do say rượu nên không biết bị rơi ở đâu, anh không yêu cầu gì về số tài sản này.
Anh Phạm Văn H có hành vi dùng tay chân đánh anh G nhưng anh G từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu xử lý. Ngày 09/4/2018 Công an quận H đã xử phạt hành chính đối với anh Phạm Văn H về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Về đối tượng K do S khai không biết rõ căn cước nên Cơ quan điều tra - Công an quận H không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.
Bản cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 27/4/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố Nguyễn Giang S về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 172 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Giang S khai khoảng 01h00’ ngày 21/02/2018 bị cáo đi từ nhà đến ngã ba Đ - D thấy anh Lê Quốc G và anh Đ “đen” đang ngồi uống bia, bị cáo cùng vào uống. Do hết bia nên anh G chở bị cáo đi mua thêm bia nhưng không mua được. Hai người quay lại chỗ cũ thì không thấy anh Đ ở đó mà thấy anh T “mèo” và anh Phạm Văn H đang ngồi uống nước. Anh G mời anh T và anh H uống bia nhưng bị từ chối. Do khi đó anh G say rượu nên anh H định bỏ đi thì bị anh G kéo lại. Anh H đã đánh và đẩy anh G ngã xuống đất. Trong khi đó bị cáo vẫn ngồi trên xe máy của anh G (chìa khóa vẫn cắm trong ổ). Thấy anh G bị ngã không quản lý được tài sản của mình, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của anh G bằng cách điều khiển xe máy tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được xe máy bị cáo đã đổi xe máy lấy ma túy dạng Ketamine để sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Giang S về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 172 của Bộ luật hình sự năm 2015. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 172 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Giang S với mức án từ 06 đến 09 tháng tù. Về dân sự: người bị hại anh Lê Quốc G đã được bồi thường 10.000.000 đồng. Buộc bị cáo phải bồi thường nốt cho anh Lê Quốc G 4.500.000 đồng.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét và trong quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu; bị cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi: Khoảng 01h00’ ngày 21/02/2018 bị cáo đi từ nhà đến ngã ba Đ - D thấy anh Lê Quốc G và anh Đ “đen” đang ngồi uống bia bị cáo cũng vào uống. Do hết bia nên anh G chở bị cáo đi mua thêm bia nhưng không mua được. Hai người quay lại chỗ cũ thì không thấy anh Đ ở đó mà thấy anh T “mèo” và anh Phạm Văn H đang ngồi uống nước. Anh G mời anh T và anh H uống bia nhưng bị hai người từ chối. Do khi đó anh G say rượu nên anh H định bỏ đi thì bị anh G kéo lại. Anh H đã đánh và đẩy anh G ngã xuống đất. Trong lúc đó bị cáo vẫn ngồi trên xe máy của anh G (chìa khóa vẫn cắm trong ổ). Thấy anh G bị ngã không quản lý được tài sản và không thể ngăn cản được bị cáo nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy để mang đổi lấy ma túy sử dụng. Bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của anh G bằng cách điều khiển xe máy tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được xe máy, bị cáo đã đổi xe máy lấy ma túy loại Ketamine để sử dụng. Chiếc xe máy bị cáo chiếm đoạt của anh G là loại xe Honda Wave màu đỏ - đen, biển số 29B1-685.10 trị giá 14.500.000 đồng, hiện không thu hồi được. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 172 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân về tài sản và trật tự an toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã bồi thường phần lớn tài sản cho người bị hại; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Khi cá thể hóa hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo; căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo nghiện ma túy; do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời giúp bị cáo cai nghiện để trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Biện pháp tư pháp: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc xe máy Honda Wave, biển số 29B1-685.10 trị giá 14.500.000 đồng và chưa thu hồi được. Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã nhắn nhờ gia đình bồi thường cho người bị hại. Chị Trần Mỹ N - vợ bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại 10.000.000 đồng và chị N không yêu cầu bị cáo trả lại cho chị số tiền này. Nay anh G yêu cầu bị cáo phải bồi thường nốt 4.500.000 đồng. Vì vậy, buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho anh G 4.500.000 đồng.
Ái phí: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
* Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: NGUYỄN GIANG S phạm tội “Công nhiêm chiếm đoạt tài sản”.
2. Áp dụng:
+ khoản 1 Điều 172; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
3. Hình phạt:
Xử phạt: NGUYỄN GIANG S 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính tứ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ 24/02/2018 đến ngày 02/3/2018.
4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 588; Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 48 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Quốc G 4.500.000 đồng (bốn triệu, năm trăm ngàn đồng).
* KÓ tõ ngµy ¸n cã hiÖu lùc ph¸p luËt, nÕu bÞ c¸o kh«ng tr¶ sè tiÒn trªn th× hµng th¸ng cßn ph¶i tr¶ tiÒn l·i đối với số tiền chậm trả theo l·i suÊt c¬ b¶n do Ng©n hµng Nhµ níc công bố t¬ng øng víi thêi gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
5. Án phí: Áp dụng Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TANDTP Hà Nội; -VKSNDQ Hoàn Kiếm; -THAQ Hoàn Kiếm; -CAQ Hoàn Kiếm; -Bị cáo; bị hại; -Lưu hồ sơ + VP. | Tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Nguyễn Thị Hiền Hòa |