vanban.org

Bản án 104/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Thị L và Trương Hữu N.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thu T giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thu T phạm tội "Đánh bạc". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSPT - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Thị L và Trương Hữu N.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 20 Bộ luật Hình sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2017/HSPT
Ngày: 19/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Trương Thị Lệ Thu

Các thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Ông Hồ Đức Quang

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn – thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Lê, kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 68/2017/HSPT ngày 06/7/2017 đối với các bị cáo: Ngô Văn H và đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2017 của Toà án nhân dân Thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.

Vụ án được xét xử công khai.

Các bị cáo kháng cáo

1. Trần Thị L; Sinh ngày: 10/06/1970; Trú tại: Thôn 4, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Trình độ văn hóa: lớp 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Huy N ( đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Chồng: Đặng Minh H ( Đã chết) và có 2 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự : Không; Nhân thân : Ngày 31/12/2013 bị công an phường T1, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 27/05/2014 bị Công an phường T2, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 02/10/2014 bị Công an phường T1, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Bị tạm giữ từ ngày 08/12/2016 đến 14/12/2016 thì được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa

2. Trương Hữu N; Sinh ngày: 31/7/1988; Trú tại: Tổ 10, phường T1, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Trình độ văn hóa: lớp 11/12; Nghề nghiệp: buôn bán; Con ông Trương Hữu H và bà Lê Thị L (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/12/2010 bị Tòa án Nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù về tội: Cướp tài sản”. Thi hành án tại trại giam Công an tỉnh Hà Tĩnh, ngày 02/09/2011 chấp hành xong hình phạt tù. Hiện đã được xóa án tích. Ngày 05/12/2012 bị Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định số 3632/ QĐ-UBND đưa vào Cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 02/09/2014. Bị tạm giữ ngày 08/12/2016 đến 14/12/2016 thì được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Thị Thu T; Sinh ngày: 22/11/1982; Trú tại: Tổ 6, phường T3, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Trình độ văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: Cán bộ Sở xây dựng Hà Tĩnh; Con ông Trần Viết K và bà Lê Thị T; Chồng: Nguyễn Văn T và có 01 con sinh nhăm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/12/2013 bị Công an phường T1, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Các bị cáo không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị: Lê Thị T, Nguyễn Thị L

Bị cáo kháng cáo và đã rút kháng cáo trước ngày mở phiên tòa và tòa án đã ra quyết định đình chỉ: Ngô Văn H

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Phan Thị H.

NHẬN THẤY

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh và bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09h30’ đến 14h00’ ngày 08/12/2016, tại nhà của Ngô Văn H ở số nhà 06 ngách 08 đường N thuộc phường T1, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh: Ngô Văn H, Trần Thị L, Lê Thị T, Trương Hữu N, Trần Thị Thu T và Nguyễn Thị L đã cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài phỏm, được thua mỗi ván từ 50.000 đồng đến 250.000 đồng với tang số sử dụng đánh bạc là 14.320.000 đồng. Đến 14h00’ cùng ngày thì Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang H, L, T, N cùng tang vật là 01 bộ bài tú lơ khơ và 12.420.000 đồng tại nơi đánh bạc.

Trong vụ án này, Ngô Văn H là người khởi xướng, sử dụng nhà làm nơi đánh bạc và trực tiếp đánh bạc nên giữ vai trò chính; Trần Thị L, Lê Thị T, Trần Thị Thu T, Trương Hữu N, Nguyễn Thị L và là đồng phạm với vai trò là người thực hành

Với nội dung trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh quyết định:

Tuyên bố: Ngô Văn H, Trần Thị L, Lê Thị T, Trần Thị Thu T, Trương Hữu N và Nguyễn Thị L phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, p, s khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53 của BLHS năm 1999, xử phạt: Ngô Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/12/2016 đến 14/12/2016.

Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53 của BLHS năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt: Trần Thị L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/12/2016 đến 14/12/2016.

Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53, khoản 1,2 Điều 60 của BLHS năm 1999, xử phạt: Lê Thị T 05 (năm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao Lê Thị T cho UBND xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Áp dụng khoản 1, Điều 248, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53 của BLHS năm 1999, điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt: Trần Thị Thu T 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53 của BLHS năm 1999, xử phạt: Trương Hữu N 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/12/2016 đến 14/12/2016.

Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53, Điều 31 của BLHS năm 1999, xử phạt: Nguyễn Thị L 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao Nguyễn Thị L cho UBND phường T1, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý tang vật, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/6/2017 bị cáo Trần Thị L, Trần Thị Thu T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 03/6/2017 bị cáo Trương Hữu N có đơn kháng cáo cho rằng bản án chưa hợp lý.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Trần Thị L, Trương Hữu N rút đơn kháng cáo. Xét việc các bị cáo rút đơn kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, HĐXX quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Thị L và Trương Hữu N.

Bị cáo Trần Thị Thu T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xét đơn kháng cáo của bị cao làm trọng hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình mà bản án sơ thẩm đã xử phạt, chỉ xin được hưởng án treo vì vậy có đủ cơ sở khẳng định bản án sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2017 của Toà án nhân dân Thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh đã xử phạt bị cáo về tội "Đánh bạc" là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, do ham mê cờ bạc mà bị cáo T cùng với các bị cáo khác đã bất chấp pháp luật, cùng nhau tụ tập đánh bạc, sát phạt lẫn nhau. Bị cáo T đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc vào năm 2013, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Tại phiên tòa hôm nay, ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo thì bị cáo không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới vì vậy Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

Tại phiên toà sau khi phân tích xem xét đánh giá kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử y án sơ thẩm, xét đề nghị của đại diện VKS là có cơ sở.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 2 Điều 238, điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Thị L và Trương Hữu N.

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thu T giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thu T phạm tội "Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1, Điều 248, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53 của BLHS năm 1999, điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt: Trần Thị Thu T 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Căn cứ điều 99 BLTTHS, điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí toà án buộc bị cáo Trần Thị Thu T phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSPT.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ