vanban.org

Bản án 103

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 103/2023/ HSST.
Ngày: 23/2/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan A.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Cát T

Bà Nguyễn Thị L

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị N - Thư ký TAND TP T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên toà:

Ông Hà Trọng L - Kiểm sát viên.

Ngày 23/2/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 131/2023/HSST ngày 18/01/2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2023/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo: Lê Xuân L - sinh năm: 1973; ĐKNKTT và chỗ ở: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh T; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Lê Đình L và con bà Lê Thị T; vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/12/1995 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 18/5/1996 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 51 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân”, tổng hợp hình phạt của 2 bản án là 05 năm tù; bị bắt tạm giữ ngày 02/11/2022 đến ngày 11/11/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

[NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Lê Xuân L bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 02/11/2022, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T, phối hợp cùng Công an phường Q, thành phố T, tiến hành kiểm tra phòng đầu tiên của khu nhà trọ số nhà 48/251 H, phường Q, thành phố T đã phát hiện, bắt quả tang Lê Xuân L đang tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ được là 02 viên nén hình tròn, màu đỏ có ký hiệu WY, do L giao nộp cho cho tổ công tác và khai nhận đây là ma túy, loại hồng phiến, L cất giấu mục đích để sử dụng.

Về nguồn gốc ma túy, Lê Xuân L khai ngày 24/10/2022, L đến khu vực đường tránh phường Q, TP T gặp và mua được của Nguyễn Nam B, sinh năm 1977, ở thôn H, xã Q, thành phố S, tỉnh T 05 viên hồng phiến, với giá 150.000 đồng, sau đó mang về sử dụng 03 viên, còn 02 viên hồng phiến L cất dấu, đến ngày 02/11/2022, khi Cơ quan Công an đến phòng trọ nơi L đang ở kiểm tra, L đã tự giác giao nộp. Cùng ngày 02/11/2022, khám xét nơi ở của Nguyễn Nam B, Cơ quan điều tra thu giữ được 02 gói ni lon, bên trong chứa chất màu đen, nghi ma túy.

Ngày 05/11/2022, khi Cơ quan điều tra triệu tập lên làm việc, Nguyễn Nam B không thừa nhận việc bán ma túy cho Lê Xuân L. Đối với 02 gói ni lon, bên trong chứa chất màu đen, B khai là thuốc phiện, nhặt được trên đường đem về nhà cất dấu để sử dụng.

Tại Kết luân giám định số 3848/KL-KTHS ngày 07/11/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: 02 viên nén màu hồng thu giữ được của Lê Xuân L là ma túy, có tổng khối L là 0,204g, loại Methamphetamine.

Tại Kết luân giám định số 3905/KL - KTHS ngày 09/11/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Chất màu đen của phong bì niêm phong gửi giám định (02 gói ni lon, bên trong chứa chất màu đen thu giữ của Nguyễn Nam B) là nhựa thuốc phiện, có tổng khối L: 25,461 gam.

Ngày 25/11/2022, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số: 407/QĐ-CSĐT và Quyết định khởi tố bị can số: 657/QĐ-CSĐT đối với Nguyễn Nam B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 11/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã ra Quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sầm Sơn, tỉnh T để điều tra theo thẩm quyền.

Về vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong, do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, bên trong có 01 viên nén màu đỏ có khối L: 0,104gam (kết quả giám định là Methamphetamine), là mẫu vật còn lại sau giám định và 01 điện thoại di động Iphone thu của Lê Xuân L được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T để xử lý theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 96/CT-VKSTPTH ngày 17/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố Lê Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng: khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, Model: A 1633, IC: 579C - E2946A ghi trên mặt sau vỏ máy điện thoại.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Do nghiện ma túy. Khoảng 00h giờ 05 phút, ngày 02/11/2022, tại số nhà 48/251 H, phường Q, thành phố T, tổ công tác của Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố T, phối hợp cùng Công an phường Q, thành phố T đã phát hiện, bắt quả tang Lê Xuân L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ được là 02 viên ma túy, có tổng khối L là 0,204g, loại Methamphetamine, L tàng trữ với mục đích để sử dụng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Xuân L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt áp dụng xét xử đối với bị cáo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS

. Bị cáo là đối tượng biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống trong các quan hệ xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa lành mạnh. Đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS phát triển, nhất là đối với những người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vì có tác hại như vậy nên nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục, nhằm ngăn chặn các tệ nạn và hoạt động có liên quan đến ma túy. Trong vụ án này bị cáo vì nghiện ma túy dẫn đến phạm tội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

Trong vụ án này bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, lại phạm loại tội nghiêm trọng, chứng tỏ rằng bị cáo là đối tượng xem thường pháp luật. Vì lẽ đó cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai phạm. Tuy nhiên khi L hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số ma túy thu được của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành cùng với 01 điện thoại di động Iphone màu vàng là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần áp dụng khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân L 15(mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2022.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, kèm chữ ký, chữ viết của Lê Minh Tiến, Lưu Bình Nguyên, Phạm Bá Sơn, Lê Chí Cường.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, Model: A 1633, IC: 579C - E2946A ghi trên mặt sau vỏ máy điện thoại, điện thoại đã cũ, không kiểm tra chất L máy móc bên trong. Hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng số 85/2023/THA ngày 07/02/2023.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh T; -VKSND TPTH;

- Công an TP. T;

- Lưu hồ sơ

Nguyễn Thị Lan A

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cát Tƣởng

Nguyễn Thị Loan

Nguyễn Thị Lan Anh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh T; -VKSND TPTH;

- Công an TP. T;

- Lưu hồ sơ

Nguyễn Thị Lan Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cát Tƣởng

Nguyễn Thị Loan

Nguyễn Thị Lan Anh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh T; -VKSND TPTH;

- Công an TP. T;

- Lưu hồ sơ

Nguyễn Thị Lan Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Quân

Lê Văn Tân

Nguyễn Thị Lan Anh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh; -VKSNDTPTH;

- Công an TP. T;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Lan Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cát Tƣởng

Lê Thị Mơi

Nguyễn Thị Lan Anh

Cỡ chữ